LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Con người đã và đang thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa trong nhiều thế kỷ qua. Tự nhiên mà nói có nghĩa là hoạt động quản lý hàng hóa đã ra đời và song hành với sản xuất thương mại ngay từ những ngày đầu dưới những hình thái căn bản nhất.Vào thời điểm đó không có máy tính cũng như các công cụ hiện đại để thực hiện công tác quản lý hàng hóa nhưng con người có luôn cố đơn giản hóa quy trình quản lý này bằng nhiều phương thức khác nhau. Một trong những sự kiện sâu sắc nhất tác động đến quá trình sản xuất lao động của con người từ xưa đến nay chắc chắn là cuộc cách mạng công nghiệp giúp gia tăng hiệu suất và sự xuất hiện của quy trình sản xuất hàng loạt.
Doanh nghiệp phát triển, nhu cầu sản xuất cũng nhiều hơn kéo theo sự cần thiết phải có một hệ thống quản lý hàng hóa thông minh và khoa học. Vào đầu những năm 1930, một nhóm nghiên cứu tại trường đại học Harvard đã thiết kế ra mô hình được xem như là mô hình check out đầu tiên trong hệ thống quản lý kho hàng. Nó sử dụng thẻ bấm lỗ tương ứng với các khoản mục trong catalog. Máy tính sẽ đọc thẻ và đưa thông tin cho bộ phận kho, nhân viên kho sẽ tiếp nhận dữ liệu và chuyển món đồ đến cho khách hàng.
Vì hệ thống là tự động hóa, nên máy tính cũng có thể xuất ra các hóa đơn, hình thành dữ liệu hàng tồn kho phục vụ công tác quản lý. Thời điểm này, chi phí để thực hiện hệ thống còn quá cao so với khả năng sinh lời của hoạt động kinh doanh chính vì thế phạm vi áp dụng còn hạn chế, tuy nhiên theo thời gian, quy mô sản xuất ngày càng mở rộng, sự ra đời của mô hình này là tiền đề đầu tiên cho sự phát triển của hệ thống quản lý hàng hóa hiện đại sau này. Sự phát triển của khoa học công nghệ kéo theo quy trình sản xuất cũng như quản lý ngày càng được cải tiến. Mã vạch và các công cụ nhận dạng sản phẩm giúp công tác quản lý hàng hóa của chủ doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn lúc nào hết.
Nhu cầu hoạch định nguyên vật dùng trong sản xuất, dự trữ hàng hóa vật tư cũng từ đó mà trở nên ngày càng quan trọng hơn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Vậy lý do gì mà các doanh nghiệp phải tiến hành dự trữ hàng hóa. Có 3 lý do chính: Thứ nhất, Doanh nghiệp sẽ duy trì hàng dự trữ để tránh tắc nghẽn trong quá trình sản xuất và bán hàng. Bằng việc duy trì hàng dự trữ, các doanh nghiệp đảm bảo được việc sản 2 xuất không bị gián đoạn do thiếu nguyên vật liệu.
Mặt khác, việc bán hàng cũng không bị ảnh hưởng do không có sẵn hàng hóa thành phẩm. Thứ hai, việc giữ lại hàng dự trữ với mục đích này là một biện pháp đề phòng cho những tình huống kinh doanh xấu nằm ngoài dự đoán. Sẽ có những bứt phá bất ngờ về nhu cầu thành phẩm vào một thời điểm nào đó. Tương tự, cũng sẽ có những sự sụt giảm không lường trước trong cung ứng nguyên liệu ở một vài thời điểm.
Ở cả hai trường hợp này, việc có hàng hóa dự trữ trong kho sẽ giúp doanh nghiệp tránh được những khó khăn trong tương lai. Thứ ba, Doanh nghiệp dự trữ hàng hóa để có được những lợi thế khi giá cả biến động. Giả sử nếu giá nguyên vật liệu tăng, doanh nghiệp sẽ muốn giữ nhiều hàng tồn kho so với yêu cầu với giá thấp hơn. Cùng với những lợi ích mà dự trữ hàng hóa đem lại thì việc tính toán chi phí lưu trữ sao cho hợp lý cũng cần phải cân nhắc .Việc dự trữ hàng hóa không phải lúc nào cũng tốt.
Có thể nói rằng việc thu mua tràn lan chứa đựng nhiều rủi ro và việc gặp phải những rủi ro không lường trước được sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp .Việc lưu trữ hàng hóa quá nhiều, không có kế hoạch, sẽ chiếm những khoản chi phí nhất định. Do vậy, công việc rất cần thiết đối với một công ty là lập kế hoạch cụ thể về lưu trữ hàng hóa. Công ty cổ phần đầu tư sản xuất tổng hợp Thái Dương là một công ty hoạt động lâu năm trong lĩnh vực sản xuất dây và cáp điện. Quá trình sản xuất sản phẩm kéo dài và được tiến hành theo nhiều công đoạn của dây chuyền sản xuất như kéo rút, ủ mềm, bện, bọc vỏ cách điện, bọc vỏ bảo vệ …chính vì vậy muốn quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường công ty cũng đều phải tính toán một lượng dự trữ lượng hàng hóa sao cho phù hợp.
Thông thường, các mặt hàng nguyên vật liệu chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu hàng dự trữ của doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc hoạch định dự trữ nguyên vật liệu trong công ty rất quan trọng. Nếu nguyên vật liệu tồn kho quá lớn sẽ gây lãng phí cho doanh nghiệp, hiệu quả mà đồng vốn bỏ ra là không cao. Ngược lại, nếu nguyên vật liệu dự trữ quá ít sẽ không đáp ứng được nhu cầu sản xuất trong tương lai gần, làm ảnh hưởng tới quá trình sản xuất liên tục của doanh nghiệp, hơn nữa có thể ảnh hưởng tới uy tín của công ty khi không cung cấp đủ sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng, thậm chí còn ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh với các đối thủ khác cùng ngành nghề.
Trên thực tế, nhờ việc tích lũy kinh nghiệm, chịu khó tìm hiểu và tiếp thu những mô hình sản xuất mới, Công ty cổ phần đầu tư sản xuất tổng hợp Thái Dương ( gọi tắt là 3 SUNCO ) đã thực hiện một cách khá đầy đủ các hoạt động của việc quản trị dự trữ nguyên vật liệu , từ khâu hoạch định nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu, chi phí tồn kho cho đến quá trình tổ chức thực hiện, kiểm soát mức dự trữ và cuối cùng là đánh giá công tác quản trị hàng dự trữ. Nhờ việc thực hiện công tác quản trị hàng dự trữ nguyên vật liệu mà công ty đã và đang là một trong những thương hiệu uy tín trên thị trường cung cấp các sản phẩm dây và cáp điện. Việc tổ chức thực hiện gắn chặt với các nhà cung cấp nguyên vật liệu chính giúp hoạt động sản xuất của công ty trở nên ổn định hơn. Mặt khác nó còn giúp công ty giảm lệ thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu từ nước ngoài qua đó giảm thiểu chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, do kinh nghiệm quản lý chưa nhuần nhuyễn, bộ máy quản lý cồng kềnh, sự phối hợp từ các đối tác còn nhiều bất cập nên hoạt động quản trị dự trữ nguyên vật liệu tại công ty SUNCO vẫn còn nhiều tồn đọng yếu kém. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết cần nghiên cứu tình hình thực tế, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị dự trữ nguyên vật liệu tại công ty, do vậy, tác giả đã chọn đề tài “ Quản trị dự trữ nguyên vật liệu tại công ty cổ phần đầu tư sản xuất tổng hợp Thái Dương ” làm luận văn thạc sĩ quản trị doanh nghiệp của mình. Tổng quan nghiên cứu Nguyễn Duy Hiển (2015), Hoàn thiện quản trị dự trữ tại Công ty TNHH ứng dụng khoa học kỹ thuật và dịch vụ Minh Quang, Luận văn thạc sĩ Đại học Kinh tế Quốc dân. Công ty TNHH Ứng dụng Khoa học Kỹ thuật và Dịch vụ Minh Quang là công ty thương mại chuyên phân phối hóa chất diệt muỗi và côn trùng cho các công ty hóa chất lớn trong và ngoài nước.
Với tỷ trọng hàng dự trữ trên tổng tài sản chiếm đến 80%, việc thực hiện công tác quản trị dự trữ tại công ty là vô cùng quan trọng. Thông qua kết quả phân tích dữ liệu thu thập được, tác giả bài luận nhận thấy rằng công tác quản trị dự trữ tại công ty đã được chú trọng, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế như: Công tác kế hoạch dự trữ lại dựa vào kinh nghiệm truyền thống nên chưa mang tính khoa học và thiếu sự chính xác. Mối quan hệ với nhà cung cấp mang tính chất hợp tác chứ chưa đi sâu vào sự gắn kết. Sắp xếp bố trí nhà xưởng còn thiếu hợp lý chưa đảm bảo tính chất thuận lợi cho hoạt động xuất nhập hàng.
4 Quá trình thực hiện quản trị dự trữ vẫn còn hạn chế chưa được áp dụng toàn diện trong hoạt động của doanh nghiệp. Để khắc phục được những hạn chế này tác giả đã đưa ra những giải pháp kiến nghị như sử dụng mô hình phân tích ABC vào việc phân loại hàng dự trữ, áp dụng phương pháp dự báo nhu cầu dự trữ cho nhóm sản phẩm chiến lược, áp dụng mô hình khấu trừ theo số lượng với một vài sản phẩm nhất định. Bài luận tuy đưa ra cơ sở lý thuyết đầy đủ về quản trị dự trữ tuy nhiên việc tiến hành cũng như áp dụng các mô hình dự trữ tại công ty còn hạn chế nên chưa chỉ ra được những nhân tố tác động ảnh hưởng đến quyết định dự trữ của nhà quản trị. Nguyễn Phi Hùng (2015), Quản lý hàng tồn kho tại Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Đại học Kinh tế Quốc dân.
Nội dung của bài luận văn chủ yếu tập trung vào các vấn đề quản lý hàng tồn kho tại doanh nghiệp, các phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho theo quan điểm của kế toán. Về mặt quản trị học tác giả đã đề cập đến vấn đề tổ chức thực hiện trong khâu xây dựng hệ thống kho bãi lưu trữ và công tác kiểm soát lượng hàng dự trữ trong kho. Công tác hoạch định lượng hàng dự trữ và mối quan hệ giữa lượng hàng dự trữ và chi phí liên quan mới chỉ được đề cập trong phần giải pháp kiến nghị đối với công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam. Kết quả tác giả thu được sau quá trình nghiên cứu là việc đưa ra những ưu và nhược điểm trong quá trình quản lý hàng tồn kho, chỉ ra được những nguyên nhân khiến quá trình quản lý này chưa được thuận lợi đồng thời cũng kiến nghị một vài giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý hàng tồn kho tại công ty.
Chương Mũi Lỹ (2007), Nâng cao hiệu quả công tác quản lý tồn kho nguyên vật liệu tại công ty Sanofi - Synthelabo Việt nam , Luận văn thạc sĩ Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.