CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ DÒNG TIỀN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý thuyết quản trị dòng tiền của doanh nghiệp 1. Cơ sở lý thuyết về dòng tiền trong doanh nghiệp 1. Khái niệm dòng tiền Nghiên cứu của Noor và cộng sự (2012) chỉ ra rằng dòng tiền thực chất là sự di chuyển của tiền vào và ra trong doanh nghiệp; chu kỳ này sẽ ra quyết định cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Theo Sarumathi và Kumar (2020), dòng tiền có nghĩa là tiền chuyển vào hoặc ra khỏi doanh nghiệp, dự án hoặc sản phẩm tài chính. Dựa vào các khái niệm trên, có thể kết luận rằng dòng tiền (Cashflow) phản ánh sự vận động của tiền đi vào và đi ra phát sinh trong một thời kỳ nhất định. Khái niệm về dòng tiền được xác định rõ hơn thông qua: dòng tiền vào (Cash Inflows), dòng tiền ra (Cash Outflows) và dòng tiền thuần (Net money). Dòng tiền vào được hiểu là số tiền doanh nghiệp thu được khi thực hiện các hoạt động SXKD.
Ngoài ra còn đến từ các nguồn như huy động thêm vốn thông qua ngân hàng, các loại giấy tờ có giá; bán, thanh lý các TSCĐ của doanh nghiệp; tăng vốn chủ sở hữu khi có thêm thành viên góp vốn hoặc chủ sở hữu góp vốn… Dòng tiền vào chưa chắc là thu nhập của doanh nghiệp. Nó được sử dụng để đánh giá sức khỏe tài chính tổng thể của một doanh nghiệp và một doanh nghiệp có dòng tiền lớn và ổn định có thể được coi là có tình hình tài chính tốt (Belobo, Pelser, 2014). Dòng tiền ra là các khoản tiền doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động SXKD nhằm thu được lợi nhuận như mua sắm các TSCĐ, trả hoặc ứng lương thưởng cho nhân viên. Không chỉ vậy, khi doanh nghiệp thực hiện thanh toán các khoản nợ hay trả lãi; chia cổ tức bằng tiền mặt cho cổ đông; mua lại cổ phiếu của chính doanh nghiệp đó cũng làm dòng tiền ra tăng lên.
Dòng tiền ra chưa chắc là chi phí của doanh nghiệp. 4 Dòng tiền thuần là sự chênh lệch giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Có 3 loại dòng tiền ròng cụ thể là: Dòng tiền thuần sử dụng cho các hoạt động kinh doanh, dòng tiền thuần sử dụng cho các hoạt động tài chính và cuối cùng là dòng tiền thuần từ các hoạt động đầu tư.1: Sơ đồ dòng tiền (Nguồn: Giáo trình Học viện Tài Chính) Phân biệt giữa dòng tiền thuần và lợi nhuận: Dòng tiền thuần và lợi nhuận tuy đều là chỉ số phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp nhưng lại có những đặc điểm khác nhau dễ gây nhầm lẫn trong quá trình phân tích và đánh giá. Về mặt khái niệm, dòng tiền thuần là số dư tiền của doanh nghiệp được đo lường trong khoảng thời gian nhất định.
Còn lợi nhuận là tổng giá trị thu được trong quá trình mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ cũng như các hoạt động khác. Hình dưới đây biểu thị công thức tính hai chỉ tiêu này: 5 Hình 1.2: Sự khác biệt giữa lợi nhuận và dòng tiền (Nguồn: vtick) Dòng tiền phản ánh kết quả của việc thu tiền vào và chi tiền ra; trong khi lợi nhuận là phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh nào đó, cho dù có thu được tiền hay chưa thu được tiền thì lợi nhuận vẫn được ghi nhận. Nói cách khác, việc bán được hàng có lợi nhuận nhưng lợi nhuận đó mới chỉ trên giấy, số tiền thực tế thu về có thể ít hơn hoặc không thu được. Một số khoản mục trên các BCTC có thể chỉ ảnh hưởng đến dòng tiền hoặc lợi nhuận.
Ví dụ như khấu hao và hao mòn được ghi nhận là chi phí trong kỳ nên chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận. Ngược lại, một số khoản mục trả trước như bảo hiểm, ứng trước cho người bán, hợp đồng bảo trì, sửa chữa được trích trước và trả bằng tiền chỉ ảnh hưởng đến dòng tiền của doanh nghiệp. Dòng tiền thuần của doanh nghiệp có thể dương hoặc âm. Dòng tiền thuần dương có nghĩa là dòng tiền thu vào lớn hơn dòng tiền chi ra, doanh nghiệp sẽ đảm bảo được khả năng thanh toán các khoản nợ, có nguồn vốn đi đầu tư sinh lời.
Dòng tiền thuần âm có nghĩa số tiền chi ra của doanh nghiệp tăng cao, vượt mức số tiền thu được, lúc này doanh nghiệp cần cắt giảm chi phí, huy động thêm vốn từ các nguồn khác nhau để cung cấp kịp thời cho nhu cầu của mình. 6 Dòng tiền thuần được doanh nghiệp sử dụng vào các mục đích phân bổ, kinh doanh khác nhau nhằm đảm bảo cho việc phân bổ nguồn đầu tư hiệu quả, đúng đắn với mục đích của dòng tiền. Qua đó, hướng đến tiếp cận lợi ích và các mục đích cần đạt được, giúp doanh nghiệp xác định kết quả kinh doanh là lãi hay lỗ. Vai trò của dòng tiền Tiền là loại tài sản dễ dàng chuyển hóa thành các loại tài sản khác.
Bởi tính năng linh hoạt này, dòng tiền sẽ là công cụ để doanh nghiệp ứng phó trong mọi tình huống dù được dự báo trước hay không. Nó vừa cho phép doanh nghiệp dễ dàng thực hiện các giao dịch quan trọng, vừa đảm bảo việc chi trả cổ tức cho cổ đông, vừa là nguồn lực đem đi đầu tư sinh lời… Dòng tiền tốt giúp doanh nghiệp ổn định vị thế trong ngành nói riêng và trên thị trường nói chung. Việc lưu thông tiền trong doanh nghiệp một cách nhanh chóng cho thấy khả năng tạo ra tiền và sử dụng tiền hợp lý, giúp nhà quản trị đánh giá được hiệu quả của HĐKD và các rủi ro liên quan đến nguồn vốn của doanh nghiệp. Từ đó, việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính được đảm bảo đúng hạn, góp phần xây dựng được lòng tin đối với chủ nợ, tạo uy tín với khách hàng, hấp dẫn các nhà đầu tư.
Phân loại dòng tiền Để tiện cho việc theo dõi và nghiên cứu, dòng tiền được chia theo nhiều cách khác nhau tùy vào mục đích quản trị của mỗi doanh nghiệp. Phân loại theo hoạt động của doanh nghiệp Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (Operating cash flow – OCF) hay còn được gọi là lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh. Đây là các dòng tiền thu vào - chi ra liên quan đến thu nhập, chi phí của doanh nghiệp và xảy ra thường xuyên trong quá trình SXKD. Đây là dòng tiền quan trọng nhất trong BCLCTT vì nó thể hiện khả năng tạo tiền từ nội tại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu trả nợ, chia lãi cho các chủ sở hữu và gia tăng đầu tư.
Đồng thời, các thông tin từ dòng tiền của hoạt động kinh doanh trong kỳ này sẽ 7 là cơ sở cho việc lập kế hoạch lưu chuyển tiền tệ kỳ tới. Các dòng tiền chủ yếu từ hoạt động kinh doanh bao gồm: + Tiền thu được từ việc bán hàng, cung cấp dịch vụ + Tiền thu được từ doanh thu khác (tiền thu bản quyền, phí, hoa hồng và các khoản khác trừ các khoản tiền thu được được xác định là luồng tiền từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính) + Tiền chi trả cho người cung cấp hàng hóa và dịch vụ + Tiền chi trả cho người lao động về tiền lương, tiền thưởng, trả hộ người lao động về bảo hiểm, trợ cấp. + Tiền chi trả lãi vay + Tiền chi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp + Tiền thu do được hoàn thuế + Tiền thu do được bồi thường, được phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng kinh tế; + Tiền chi trả công ty bảo hiểm về phí bảo hiểm, tiền bồi thường và các khoản tiền khác theo hợp đồng bảo hiểm + Tiền chi trả do bị phạt, bị bồi thường do doanh nghiệp vi phạm hợp đồng kinh tế. Dòng tiền từ hoạt động đầu tư (Cash flow from Investing Activities – ICF) hay còn được gọi là lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư.
Đây là dòng tiền phát sinh liên quan đến việc mua sắm, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương. Các khoản mục trong dòng tiền này bao gồm: + Tiền chi để mua sắm, xây dựng TSCĐ và các tài sản dài hạn khác, bao gồm cả những khoản tiền chi liên quan đến chi phí triển khai đã được vốn hóa là TSCĐ vô hình + Tiền thu từ việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ và các tài sản dài hạn khác 8 + Tiền chi cho vay đối với bên khác, trừ tiền chi cho vay của ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính; tiền chi mua các công cụ nợ của các đơn vị khác, trừ trường hợp tiền chi mua các công cụ nợ được coi là các khoản tương đương tiền và mua các công cụ nợ dùng cho mục đích thương mại + Tiền thu hồi cho vay đối với bên khác, trừ trường hợp tiền thu hồi cho vay của ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính; tiền thu do bán lại các công cụ nợ của đơn vị khác, trừ trường hợp thu tiền từ bán các công cụ nợ được coi là các khoản tương đương tiền và bán các công cụ nợ dùng cho mục đích thương mại + Tiền chi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, trừ trường hợp tiền chi mua cổ phiếu vì mục đích thương mại + Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, trừ trường hợp tiền thu từ bán lại cổ phiếu đã mua vì mục đích thương mại + Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận nhận được. Dòng tiền từ hoạt động tài chính (Cash flow from Financing Activities – FCF) hay còn gọi là lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính. Đây là dòng tiền phát sinh từ các hoạt động tạo ra sự thay đổi kết cấu, quy mô của vốn chủ sở hữu và vốn vay trong doanh nghiệp.
Dòng tiền này bao gồm: + Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu + Tiền chi trả vốn góp cho các chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu của chính doanh nghiệp đã phát hành + Tiền thu từ các khoản đi vay ngắn hạn, dài hạn + Tiền chi trả các khoản nợ gốc đã vay + Tiền chi trả nợ thuê tài chính + Cổ tức, lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu b. Phân loại theo tính chất sở hữu 9 Dòng tiền thuần của doanh nghiệp (FCFF): Đây là dòng tiền được tạo ra từ hoạt động kinh doanh thuộc về các nhà đầu tư, bao gồm cả chủ nợ và chủ sở hữu sau khi trừ đi những khoản đầu tư cần thiết.