phần mở đầu và kết luận, luận văn kết cấu thành 3 chƣơng: + Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về vốn lƣu động và quản trị vốn lƣu động. + Chƣơng 2: Thực trạng quản trị vốn lƣu động tại Tổng công ty Miền Trung. + Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị vốn lƣu động tại Tổng công ty Miền Trung. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Đề cập đến quản trị vốn lƣu động đã và đang có nhiều nhà khoa học cũng nhƣ các nhà quản trị hết sức quan tâm vì nó có vai trò đặc biệt quan 4 trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp cũng nhƣ góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế.
Về lý thuyết liên quan đến công tác quản trị vốn lƣu động đã có nhiều tác giả nghiên cứu phân tích và đúc kết thành những nguyên lý, luận điểm thông qua một số giáo trình phổ biến nhƣ: Giáo trình Lý thuyết tài chính - PGS. Dƣơng Đăng Chính (2009), Nhà xuất bản Tài Chính; Giáo trình Tài chính doanh nghiệp căn bản - Nguyễn Minh Kiều (2009), Nhà xuất bản thống kê; Giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp; Giáo trình Quản trị tài chính ngắn hạn - Nguyễn Tấn Bình, Lê Minh Đức (2007), Nhà xuất bản Thống kê. Về thực tiễn nghiên cứu quản trị vốn lƣu động cũng đã có nhiều công trình có giá trị của các nhà nghiên cứu, luận văn thạc sĩ trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Mỗi nghiên cứu thực tiễn đều khái quát lên đƣợc những vấn đề ảnh hƣởng tới vốn lƣu động và quản trị vốn lƣu động cũng nhƣ việc gợi ý cho những căn cứ đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác sử dụng vốn lƣu động của doanh nghiệp.
Cụ thể: Năm 2007, trong Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, bài báo “Quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp nhựa thành phố Hồ Chí Minh” (tập 10, số 10, trang 88-95) của nhóm tác giả Hàng Lê Cẩm Phƣơng, Phạm Ngọc Thúy trƣờng Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu về thực trạng quản lý vốn lƣu động và nhận dạng một số yếu tố ảnh hƣởng đến việc đầu tƣ tài sản lƣu động và cho rằng mức đầu tƣ tài sản lƣu động những doanh nghiệp trong ngành nhựa chịu ảnh hƣởng của các yếu tố nhƣ: quan điểm nhà quản lý, mục tiêu kinh doanh, tình hình sử dụng vốn, tín dụng khách hàng và các chính sách tín dụng của đối thủ cạnh tranh. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng mỗi doanh nghiệp có chính sách quản trị vốn lƣu động và mức dự trữ tài sản riêng cho doanh nghiệp đó tùy theo đặc điểm 5 khác nhau của mỗi doanh nghiệp nhƣ nguồn sử dụng vốn, đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung cấp. Trong lĩnh vực khai khoáng, tác giả Phạm Thị Thu Hiền, trong luận văn thạc sĩ kinh tế - Đại học Đà Nẵng , năm 2011 với đề tài nghiên cứu “Quản trị vốn lưu động tại công ty cổ phần khoáng sản Đăk Lắc” đã hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về quản trị vốn lƣu động trong doanh nghiệp, từ đó làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng công tác quản trị vốn lƣu động tại công ty và làm căn cứ cho việc đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động. Trong lĩnh vực sản xuất và chế biến cao su, tác giả Nghiêm Hồng Sơn trong luận văn thạc sĩ kinh tế - Đại học Đà Nẵng – năm 2011 với đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện quản trị vốn lưu động tại công ty cổ phần cao su Đà Nẵng”.
Tác giả cũng cho rằng việc quản trị vốn lƣu động là rất quan trọng và cấp bách. Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận một cách khoa học về quản trị vốn lƣu động trong doanh nghiệp, phân tích thực trạng công tác quản trị vốn lƣu động tại công ty và từ đó đánh giá những mặt đạt đƣợc cũng nhƣ hạn chế của công tác này, từ đó tác giả đề xuất các giải pháp để hoàn thiện việc quản trị vốn lƣu động tại công ty Cổ phần cao su Đà Nẵng. Trong lĩnh vực khoáng sản, tác giả Nguyễn Thị Hồng Lan trong luận văn thạc sĩ kinh tế - Đại học Đà Nẵng – năm 2012 với đề tài nghiên cứu: “Quản trị vốn lưu động tại Công ty cổ phần khoáng sản Phú Yên”. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về vốn lƣu động trong doanh nghiệp, phân tích thực trạng quản trị vốn lƣu động tại công ty, từ đó tác giả đƣa ra các giải pháp hoàn thiện quản trị vốn lƣu động tại Công ty cổ phần khoáng sản Phú Yên.
Tác giả Trần Văn Nhã với đề tài “Quản lý vốn lưu động tại công ty cổ phần lương thực Đà Nẵng” luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh - Đại học Đà Nẵng - năm 2012. Tác giả cũng đã trình bày những vấn đề cơ bản về vốn lƣu 6 động và quản trị vốn lƣu động, đƣa ra những phƣơng pháp nhằm phân tích đánh giá tình hình quản trị vốn lƣu động tại công ty lƣơng thực Đà Nẵng và chỉ ra những điểm còn hạn chế đồng thời đề xuất giải pháp giúp các nhà quản trị có thể tháo gỡ khó khăn vƣớng mắc trong quản trị vốn lƣu động. Tóm lại, cùng với vai trò đặc biệt quan trọng của công tác quản trị vốn lƣu động đối với sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp đã có sự quan tâm sâu sắc của các nhà khoa học cũng nhƣ những nhà nghiên cứu tới vấn đề này trƣớc đây. Tuy nhiên, tại Tổng công ty Miền Trung chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về quản trị vốn lƣu động.
Từ thực tế đó, với vai trò là thành viên của Công ty, dƣới sự chỉ dẫn của PGS.TS Hoàng Tùng, tác giả chọn đề tài “Quản trị vốn lƣu động tại Tổng công ty Miền Trung” làm đề tài nghiên cứu của mình. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN LƢU ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ VỐN LƢU ĐỘNG 1. KHÁI QUÁT VỐN LƢU ĐỘNG 1. Khái niệm vốn lƣu động Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp thì ngoài tài sản cố định còn cần phải có các tài sản lƣu động.
Về cơ cấu tỷ trọng tài sản lƣu động trong tổng tài sản và cơ cấu các thành phần của tài sản lƣu động tùy thuộc vào đặc điểm của từng doanh nghiệp và từng loại hình sản xuất kinh doanh khác nhau, ngoài ra nó còn phụ thuộc vào tình hình sản xuất, điều kiện sản xuất kinh doanh cụ thể của từng thời kỳ khác nhau. Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lƣợng tài sản lƣu động nhất định. Do vậy, để hình thành nên những tài sản lƣu động này, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu tƣ vào loại tài sản này, số vốn đó đƣợc gọi là vốn lƣu động. Theo tác giả Trần Văn Chánh và Ngô Quang Huân (2010) “Vốn lƣu động đƣợc định nghĩa nhƣ tài sản lƣu động hay nguồn tài nguyên của doanh nghiệp” Theo tác giả Nguyễn Đăng Chính (2009) định nghĩa “Vốn lƣu động là một yếu tố quan trọng gắn liền với toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lƣu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lƣu động và vốn lƣu thông, vì vậy nó tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, theo từ điển Wikipedia tiếng Việt “Vốn lƣu động là một thƣớc đo tài chính đại diện cho thanh khoản vận hành có sẵn cho một doanh nghiệp, tổ chức hoặc thực thể khác, bao gồm cả cơ quan chính phủ. Vốn lƣu động đƣợc tính nhƣ tài sản hiện tại trừ nợ ngắn hạn”. 8 Nhƣ vậy, ta có thể hiểu rằng, vốn lƣu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lƣu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục. Vốn lƣu động chuyển toàn bộ giá trị vào lƣu thông và từ trong lƣu thông toàn bộ giá trị của chúng đƣợc hoàn lại một lần sau một kỳ kinh doanh.
Đặc điểm vốn lƣu động Trong cơ chế tự chủ và tự chịu trách về trách nhiệm tài chính, sự vận động của vốn lƣu động đƣợc gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và ngƣời lao động. Vòng quay của vốn càng đƣợc quay nhanh thì doanh thu càng cao và càng tiết kiệm đƣợc vốn, giảm chi phí sử dụng vốn một cách hợp lý làm tăng thu nhập của doanh nghiệp, doanh nghiệp có điều kiện tích tụ vốn để mở rộng sản xuất, không ngừng cải thiện đời sống của công nhân viên chức của doanh nghiệp. Về đặc điểm, vốn lƣu động có những đặc điểm sau: + Về mặt giá trị: vốn lƣu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó, vốn lƣu động chuyển toàn bộ, một lần giá trị vào giá trị sản phẩm, khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa đƣợc thực hiện và vốn lƣu động đƣợc thu hồi.
+ Về mặt hiện vật: trong quá trình sản xuất vốn lƣu động đƣợc chuyển qua nhiều hình thái khác nhau qua từng giai đoạn. Các giai đoạn của vòng tuần hoàn đó luôn đan xen với nhau mà không tách biệt riêng rẽ. Chính vì vậy mà vốn lƣu động đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, đòi hỏi các nhà quản trị cần phải quản trị giám sát việc luân chuyển đồng vốn lƣu động một cách kịp thời, khoa học nhằm đảm bảo khắc phục những ách tắc sản xuất làm cho đồng vốn đƣợc lƣu chuyển liên tục và nhịp nhàng. Do đó, quản lý tốt vốn lƣu động có thể giúp doanh nghiệp giảm đƣợc chi phí và hạ giá thành.
Vai trò của vốn lƣu động Vốn lƣu động là yếu tố không thể thiếu đƣợc đối với bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh. Nó nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành thƣờng xuyên liên tục, vốn lƣu động có mặt trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, từ khâu mua sắm vật tƣ sản xuất cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Việc sử dụng vốn lƣu động và đảm bảo đƣợc nhu cầu vốn lƣu động sẽ có thể tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động. Do đó, vốn lƣu động có vai trò rất lớn đối với mỗi doanh nghiệp.