Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị chất lượng Chương 2 : Phương pháp nghiên cứu Chương 3 : Thực trạng quản trị chất lượng sản phẩm tại Công ty TNHH Việt Nam Nippon Seiki Chương 4 : Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản trị chất lượng sản phẩm tại Công ty TNHH Việt Nam Nippon Seiki 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHẤT LƢỢNG Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về chất lượng sản phẩm và quản trị chất lượng sản phẩm. Những cơ sở lý thuyết, lý luận của các tác giả trong lĩnh vực quản trị chất lượng sản phẩm và chất lượng sản phẩm. Vai trò của chất lượng sản phẩm tới hoạt động sản xuất kinh doanh, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, vai trò của quản trị chất lượng sản phẩm và các phương pháp quản trị chất lượng sản phẩm. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Các nghiên cứu về chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm đã được nhiều các học giả cũng như các trường phái khác nhau nghiên cứu. Trên mỗi góc độ để nhìn nhận thì chất lượng sản phẩm lại có những tính chất, đặc thù riêng biệt vì nó chịu sự phụ thuộc vào nhận thức, quan điểm của mỗi nhà nghiên cứu. Chính vì lý do đó ta có thể coi chất lượng mang tính tương đối, nó nằm trong sự chi phối của rất nhiều yếu tố như: kinh tế – xã hội, kỹ thuật, tự nhiên, môi trường hay cả những thói quen của từng người. Chất lượng là kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau, là kết quả của một quá trình.
Trong nghiên cứu tại cuốn sách “Quality is free” (1979), Philip B Crosby đã chỉ ra rằng chất lượng là tốt nhất nếu thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Ông cho rằng chất lượng là một điều có thể có được mà không mất tiền. Cái tốn kém nhất chính là cái thiếu chất lượng, nghĩa là không làm đúng mọi việc ngay từ đầu gây nên. Không những chất lượng không mất tiền mua mà là cái lãi chân chính nhất.Edward Deming với tác phẩm “ Out of the Crisis” (Vượt qua khủng hoảng, 1982), đề cập đến quản lý chất lượng toàn diện, với ý tưởng rằng chất lượng của sản phẩm và dịch vụ và sự cải tiến không ngừng, là trách nhiệm của tất cả những nhóm liên quan tới doanh nghiệp từ nhà quản lý, công nhân, tới người cung cấp và thập chí là các khách hàng.
Deming (cùng với Taiichi Ohno) được công nhận là những 4 z người tiên phong giới thiệu hệ thống đo lường chất lượng và kỹ thuật cải tiến cho sản xuất Nhật Bản. Vượt qua khủng hoảng mang đến những ý tưởng mới mẻ của ông tới giới kinh doanh Mỹ. 14 nguyên tắc cốt lõi trong cuốn sách đi ngược lại nhiều cachs hành xử phổ biến của thời kỳ đó, bao gồm Hạn ngạch sản xuất, khẩu hiệu “không có khiếm khuyết” và quản lý dựa vào sự kiểm tra, đã trở thành khuôn mẫu cho những nhà quản lý hiện đại. Armand Feigenbaum làm việc ở General Electric năm 1994.
Ông chịu trách nhiệm về các chương trình chất lượng của công ty. Sau đó, tại MIT ông đã phát triển khái niệm quản trị chất lượng toàn diện. Feigenbaum cho rằng chất lượng tổng hợp là việc đạt đến sự hoàn hảo hơn là việc tìm ra lỗi. Theo quan điểm của ông, chất lượng được xác định bởi khách hàng.
Các nhà quản lý phải có sự hiểu biết về chất lượng là gì và lợi ích mà công ty thu lại được là như thế nào. Trọng tâm của tổ chức nên nhấn mạnh vào cải tiến chất lượng theo yêu cầu của khách hàng. Theo quan điểm của tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu (European Organization for Quality Control): “ Chất lượng của sản phẩm là mức độ mà sản phẩm ấy đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng ”. Như vậy, chất lượng sản phẩm không những chỉ là tập hợp các thuộc tính mà còn là mức độ các thuộc tính ấy thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong những điều kiện cụ thể.
Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, các doanh nghiệp cần phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm. Các nghiên cứu về quản trị chất lượng sản phẩm Để đạt được "chất lượng" như mong muốn, nó đòi hỏi phải có sự kết hợp hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Một trong những yếu tố hết sức quan trọng là quản trị chất lượng. Quản trị chất lượng đã được áp dụng trong nhiều ngành, nhiều loại hình doanh nghiệp với quy mô lớn nhỏ khác nhau.
Các học giả hàng đầu thế giới đã đưa ra các triết lý về quản trị chất lượng. Deming là người Mỹ đầu tiên giới thiệu các nguyên tắc về quản trị chất lượng cho người Nhật Bản. Deming gặp gỡ Shewhart năm 1927, Deming đã khái quát được các khái niệm cơ bản quản trị chất lượng có tính thống kê như Shewhart 5 z đã từng phát triển cho phòng thí nghiệm của Bill. Triết lý cơ bản của Deaming là khi chất lượng và hiệu suất tăng thì độ biến động giảm vì mọi vật đều biến động, nên cần sử dụng các phương pháp thống kê điều khiển chất lượng.
Deming đã cô đọng triết lý của mình thành 14 điểm: - Tạo ra sự nhất quán về mục đích hướng tới cải thiện sản phẩm dịch vụ. - Nắm bắt các triết lý mới. - Loại bỏ sự phụ thuộc vào kiểm nghiệm sản phẩm và dịch vụ để đạt chất lượng. Những đòi hỏi phải có được các chứng cứ thống kê của quản lý quy trình cũng như các vẫn đề cơ bản khác.
- Mua vật liệu nếu như chỉ có người cung cấp đó có quy trình chất lượng. Chấm dứt việc ban thưởng cho doanh nghiệp chỉ dựa vào phiếu giá. - Sử dụng các phương pháp thống kê để tìm ra các điểm trục trặc và không ngừng cải tiến hệ thống. - Thực hiện trợ giúp theo phương pháp hiện tại đối với việc đào tạo tại chỗ.
- Thực thi các phương pháp giám sát hiện đại. - Phá tan sự sợ hãi. - Xóa bỏ sự ngáng trở giữa các phòng ban. - Loại bỏ các mục tiêu có tính số lượng.
- Xem xét các tiêu chuẩn công việc để dảm bảo chất lượng. - Xóa bỏ các ngăn cản hạn chế lòng tự hào của người thợ. - Thực thi các chương trình nghiêm chỉnh để đào tạo cho con người các kỹ năng mới. - Hình thành bộ máy ở tầm quản lý cấp cao để hàng ngày đẩy mạnh việc thực hiện 13 điểm trên.
Về cơ bản điểm của Deming có thể được coi là 3 phạm trù rộng lớn có tính triết lý: - Sự nhất quán của mục tiêu. - Cải tiến không ngừng - Sự hợp tác giữa các chức năng. Quản trị chất lượng sản phẩm theo định nghĩa của tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO là một hoạt động có chức năng quản lý nhằm đề ra các chính sách, mục tiêu, 6 z trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như: Hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng. Juran được coi là một nhà thiết kế chính của cuộc cách mạng chất lượng ở Nhật Bản.
Năm 1951, ông đã xuất bản quyển sách “ Sổ tay quản trị chất lượng”, theo đó, ông trình bày cách tiếp cận của ông đối với chất lượng dạng “thuyết tam luận chất lượng”. Sau quá trình nghiên cứu, ông cho ra rằng, quản trị chất lượng liên quan tới ba quy trình cơ bản: Kế hoạch chất lượng, quản lý chất lượng và cải tiến chất lượng. Kaoru Ishikawa tốt nghiệp trường Tổng hợp Tokyo năm 1939 với ngành hóa học ứng dụng. Ông ủng hộ cho việc sử dụng phương pháp thống kê.
Cả cuộc đời dành trọn cho sự phát triển của chất lượng toàn diện ở Nhật Bản. Ông đã sáng tạo ra 1 trong 7 công cụ tống kê. Đó là biểu đồ nhân quả, biểu đồ này cũng được gọi là biểu đồ Ishikawa. Khái niệm thứ hai của ông là việc coi khách hàng như một nhân tố để xác định chất lượng.
Khái niệm thứ ba của ông Ishikawa là các chu kỳ quản lý chất lượng. Khái niệm này đặt người công nhân vào tham dự nhóm để giải quyết tồn tại của chất lượng. Phát triển của Karu Ishikawa là ở chỗ ông đã sáng tạo ra các phương pháp có thể giảng dạy cho quảng đại quần chúng và ông đã sáng tạo ra các cách tiếp cận đó có thể được sử dụng để khai thác con người. Tóm lại, những triết lý đã đề cập đến một số nội dung cụ thể nhằm trang bị cho các doanh nghiệp cơ sở lý luận cũng như các công cụ để tiến hành cải tiến chất lượng cho chính doanh nghiệp của mình.
Bằng kiến thức và kinh nghiệm đã tích lũy trong quá trình làm việc. Tác giả mong muốn góp phần vào sự phát triển của Công ty. Đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh cho Công ty TNHH Việt Nam Nippon Seiki. Tôi chọn đề tài “Quản trị chất lượng sản phẩm tại Công ty TNHH Việt Nam Nippon Seiki” 1.
Cơ sở lý luận về quản trị chất lƣợng sản phẩm 1. Chất lượng sản phẩm và tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm 1. Khái niệm chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm được cho là một phạm trù rất rộng và phức tạp, bao gồm các thông tin kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Do đó có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm được đưa ra.
7 z Quan niệm xuất phát từ những thuộc tính của sản phẩm và được phản ánh bởi các tính chất đặc trưng vốn có của sản phẩm. Theo quan niệm của nhà sản xuất thì chất lượng là sự đảm bảo đạt được các tiêu chuẩn, quy cách, các yêu cầu đã được đặt ra từ trước. Đối với nền kinh tế thị trường, các khái niệm về chất lượng gắn bó chặt chẽ với các yếu tố của thị trường như nhu cầu của khách hàng, giá cả, tính cạnh tranh…Có thể gọi chúng dưới một nhóm chung là quan niệm “chất lượng hướng theo thị trường”. Đại diện cho những quan niệm chất lượng sản phẩm của các chuyên gia quản lý chất lượng hàng đầu thế giới như W.
Edwards Deming, Joseph Jurran, v. (Đặng Ngọc Sự, 2012) Theo quan điểm của người tiêu dùng thì chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng hay sự phù hợp của sản phẩm với mục đích sử dụng. Xuất phát từ giá trị, chất lượng là sự thỏa mãn của người tiêu dùng về lợi ích thu được từ sản phẩm tương ứng với chí phí bỏ ra.