mở đầu: “Đạo khả đạo dã phi hẳng đạo dã, danh khả danh dã phi hằng danh dã”. 16 Với những bản dịch đã liệt kê ở trên đều cho thấy sự tâm huyết và chất lượng trong bản dịch, nhưng cũng có những điểm khác trong cách dịch tùy thuộc vào cách hiểu và cách suy nghĩ của từng dịch giả. Dựa trên sự tư vấn của giảng viên hướng dẫn, cũng như sự đồng quan điểm với dịch giả Nguyễn Duy Cần trong nghiên cứu triết học Lão Tử: “Điều quan trọng nhất không phải là những gì cuốn sách nói với mình, mà là những gì trong sách ấy đã khêu gợi được nơi lòng mình”, người viết đã lựa chọn bản dịch của ông làm chủ đạo để nghiên cứu. Đồng thời, người viết cũng tham khảo những bản dịch khác để bổ trợ thêm về việc chứng minh quan niệm về sự thanh thản trong tư tưởng của Lão Tử.
Về bản dịch Đạo Đức Kinh của Nguyễn Duy Cần được khởi thảo từ năm 1935 và đã được đăng tải trên tạp chí “Nay” khoảng năm 1937. Tuy nhiên cũng chỉ mới đăng được một nửa. Từ đó đến nay, bản dịch của ông đã trải qua nhiều lần chỉnh sửa. Sau cùng, ông cũng quyết định xuất bản bản dịch hoàn chỉnh vào năm 1962 của mình với tâm thế “bản dịch nào cũng không sao đảm bảo sẽ dịch sát được nguyên ý của Lão Tử, nên xuất bản cũng là một cơ hội để được lĩnh giáo những bậc cao minh trong Đạo học” [15, 189].
Những cơ sở cho sự ra đời quan niệm của Lão Tử về sự thanh thản 1. Thuyết Âm dƣơng – Ngũ hành Khái niệm Âm Dương được sáng tạo ra bởi Phục Hy thông qua việc quan sát thiên nhiên và nhận ra sự vận động của vạn vật là có quy tắc chứ không phải ngẫu nhiên. Những mường tượng đầu tiên về Âm Dương được mô tả thông quá hiện tượng ánh sáng mặt trời chiếu trên một gò đất lớn hay một sườn núi; phía không có ánh sáng mặt trời thì tối và được minh họa bằng chữ Âm (陰); còn phía được ánh sáng mặt trời chiếu vào thì được minh họa bằng chữ Dương (暘). Từ khái niệm Âm – Dương, người xưa đã suy luận ra vạn vật đều có hai phương diện: tích cực là mặt dương và tiêu cực là mặt âm.
Dương thì sáng và nóng như mặt trời, mặt trời không thể tách đôi ánh sáng được. Người nam thường nóng nảy cho nên người nam là biểu trưng cho 17 Dương. Âm thì mát và lạnh ví như nước. Nước có thể tách đôi được.
Người nữ dịu dàng và nhu mì nên được biểu trưng bởi Âm. Hai yếu tố Âm Dương pha trộn, kết hợp mà tạo ra các sự vật và hiện tượng, bản thân chúng cũng có thể biến đổi linh hoạt Âm thành Dương và ngược lại. Sở dĩ có thể chuyển đổi được là do trong Âm sẵn có mầm mống của Dương và trong Dương sẵn có mầm mống của Âm. Những mầm mống Âm trong Dương gọi là thiếu Âm và mầm mống Dương trong Âm gọi là thiếu Dương.
Khi Âm có thiếu Dương ở trong thì gọi là Thái Dương; ngược lại khi Dương có thiếu Âm ở trong thì là Thái Âm. Và vì thế chúng được người xưa quy tụ lại gọi là Tứ Tượng. Cũng từ đó, khi nói về khởi nguyên của vũ trụ và sự biến hóa của trời đất, các nhà hiền triết đã viết trong Kinh Dịch như sau: “Dịch hữu Thái Cực, thị sinh Lưỡng nghi: Lưỡng nghi sinh Tứ tượng: Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái sinh ra Ngũ hành”, nghĩa là: “Đạo Dịch có nguồn gốc là thái cực: thái cực sinh ra lưỡng nghi (âm và dương); lưỡng nghi sinh ra tứ tượng (bốn trạng thái tượng trưng bằng bốn mùa xuân, hạ, thu, đông); tứ tượng sinh ra bát quái (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài; tượng trưng cho trời, nước, núi, sấm, đầm, gió, lửa, đất); bát quái sinh ra ngũ hành (là năm nguyên tố cấu tạo nên vũ trụ cùng vạn vật hữu hình: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ)” (Kinh Dịch: Hệ Từ thượng truyện, chương 11, câu 5). Âm và Dương cùng tồn tại, chi phối các sự vật, hiện tượng từ tự nhiên đến xã hội; từ đạo trời đến đạo người; từ những cái đơn giản đến những thứ phức tạp;… Trong Hệ từ hạ truyện viết: “cùng thì biến, biến thì thông, thông thì trường cửu”().
Có thể nói, đây là học thuyết duy vật chất phác về sự phát triển của thế giới. Nó khẳng định tự nhiên có trước, rồi mới có sự xuất hiện của loài người, từ đó thì xã hội mới bắt đầu hình thành. Tuy việc vận dụng học thuyết này vào giải thích các hiện tượng xã hội đã mang màu sắc thần bí, duy tâm; nhưng học thuyết Âm Dương vẫn tạo ra sức ảnh hưởng lớn đến các trào lưu triết học Trung Quốc cổ đại, trong đó có Đạo gia. 18 Ngũ hành lần đầu tiên được đề cập đến trong “Kinh thư” ở thiên Hồng Phạm Hồng phạm (nghĩa là khuôn lớn) do ông Cơ Tử là chú của vua Trụ nhà Ân.
Đầu thế kỷ IV, thứ III trước Công nguyên, quan điểm về ngũ hành được triển khai với nhiều ý nghĩa khác nhau, nhất là việc vận dụng học thuyết này vào giải thích xã hội, làm cho học thuyết ngũ hành ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Ngũ hành thường được hiểu là năm yếu tố cơ bản đầu tiên hay năm thứ vũ khi của vũ trụ, gồm: Kim (kim loại), Mộc (gỗ), Thủy (nước), Hỏa (lửa), Thổ (đất). Mỗi yếu tố trong Ngũ hành đều có những khí chất riêng và còn được gọi là năm “đức” gồm: Nước lạnh và luôn chảy chỗ thấp; lửa thì nóng và bay lên cao; gỗ uốn cong lại và thẳng ra; kim loại có tính chất phụ thuộc và biến đổi bởi tác động, ảnh hưởng bên ngoài; đất thì sinh sôi và nảy nở từ những hạt giống. Giống Âm Dương, Ngũ hành được cho là những yếu tố cơ bản hình thành nên vũ trụ, chúng quy định tính chất, chủng loại, nguồn gốc của vạn vật trong vũ trụ.
“Hỏa có tính nóng là mùa hạ, là chủ và hành mạnh ở hướng Nam và có màu đỏ. Mộc là thực vật, có tính sinh trưởng nên hình thành mùa xuân, chủ phương Đông và có màu xanh. Kim có tính khô cứng hành mạnh ở mùa thu và chủ phương Tây, có màu trắng. Thủy có tính lạnh hình thành nên mùa đông là chủ, hành mạnh ở phương Bắc và có màu đen.
Còn thổ là hành chính của ngũ hành, giúp cho các hành và các mùa biến chuyển, nên nó được coi là vị trí trung tâm của bốn mùa, hành mạnh vào khoảng giữa mùa hạ và mùa thu” [33,310]. Không chỉ ở các mùa, ngũ hành cũng chi phối sự thay đổi của ngày đêm với Buổi sáng là mộc, buổi trưa là hỏa, buổi chiều là kim và buổi tối là thủy. Trong thiên Hồng phạm, sau học thuyết ngũ hành, ứng với phạm trù ngũ hành là ngũ sự: “Thứ nhì là ngũ sự: mạo, ngôn, thị, thính, tư (suy nghĩ). Dang mạo thì phải kính cẩn, Ngôn là lời nói, nói phải thuận theo lẽ phải.
Thị là nhìn, nhìn sao cho sáng suốt. Thính là nghe, nghe sao phải rõ ràng. Tư là 19 nghĩ, nghĩ sao cho thấu suốt. Kính làm cho nghiêm, thuận làm cho đều, sáng suốt làm cho khôn, rõ ràng làm cho nhanh lẹ, sâu làm cho thánh” (6, tr.
Các yếu tố của ngũ hành luôn hoạt động, liên hệ, tương tác và thâm nhập nhau, nên còn gọi là năm nguyên nhân. Những tác động qua lại giữa ngũ hành còn được chia thành hai quá trình: tương sinh và tương khắc. Trải qua một quá trình dài phát triển, hậu thế đã có những sự tích lũy và hình thành nên mối liên kết chặt chẽ giữa năm yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Quan niệm về Ngũ hành tương sinh xuất hiện lần đầu trong tác phẩm “Xuân Thu phồn lộ” của Đổng Trọng Thư.
Bản Ngũ hành tương khắc thì xuất hiện lần đầu trong sách “Hoài Nam Tử”. Ngũ hành tương sinh là quá trình các yếu tố trong Ngũ hành tác động, liên kết và chuyển hóa lẫn nhau tạo ra sự biến chuyển trong vũ trụ, vạn vật. Cụ thể, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ. Còn về Ngũ hành tương khắc là quá trình mà các yếu tố trong ngũ hành đối lập với các yếu tố khác, tạo sự ràng buộc và chế ước lẫn nhau giữa chúng.
Cụ thể, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim. Như vậy, năm yếu tố căn bản luôn bổ trợ, triệt tiêu và thay thế nhau chiếm địa vị thống trị theo trật tự tương sinh và tương khắc, quy luật thế giới cũng vì thế mà biến đổi theo. Tóm lại, học thuyết ngũ hành là kết quả khái quát những kinh nghiệm thực tiễn lâu dài của nhân dân Trung Quốc cổ đại. Giống như học thuyết Âm Dương, học thuyết Ngũ hành đã thể hiện quan điểm duy vật thô sơ và tư tưởng biện chứng tự phát thông qua mô tả sự biến đổi của các sự vật, hiện tượng mang tính tuần hoàn khép kín, song học thuyết này đã cho thấy được sự tương tác qua lại, chuyển hóa lẫn nhau và biến đổi không ngừng của vạn vật.
Quan niệm về “Đạo” và “Đức” của Lão Tử Đạo (道 – Dào) với cái nghĩa đơn sơ nhất có thể hiểu là “con đường”. Trong triết học phương Đông, chữ Đạo được hiểu theo nhiều nghĩa, có thể là “con đường cụ thể”, hoặc có thể hiểu là “đạo lý, chân lý”. Để nói về Đạo thì 20 có rất nhiều trường phải khác nhau có thể kể đến như Âm Dương gia, Nho gia, Pháp gia, Lão gia,… Nhưng nổi bật hơn cả trong số ấy thì Nho gia và Lão gia sử dụng từ “Đạo” nhiều hơn cả. Đạo trong Nho gia xuất hiện ở hai dạng: Thứ nhất với hàm ý là “con đường” thì có Đạo của người quân tử (con đường trở thành quân tử); dạng thứ hai khi Đạo xuất hiện với nghĩa là “Chân lý” nổi bật với câu nói của Khổng Tử “Sớm mai nghe Đạo, chiều chết được rồi!” (Luận ngữ: Lý nhân, 8) [33, 136].
Đối với Khổng tử, khi nghe Đạo thật tức là nói về những chân lý thì sẽ thấy được cả cõi nhân sinh, ý nghĩa cuộc đời và hạnh phúc của tinh thần; qua đó, ông cảm thấy như đạt sự giải thoát trọn vẹn. Như vậy, đối với Nho giáo, chữ Đạo có nghĩa từ thấp lên cao, từ nghĩa cụ thể là con đường, đến nghĩa trừu tượng là quy luật, đạo lý. Tuy nhiên, dù sao nghĩa chữ Đạo của Nho gia vẫn còn mơ hồ, chưa đạt tới nghĩa rõ ràng như trong Triết học Lão Tử.