PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đạo Tin lành bắt đầu được truyền vào Việt Nam từ cuối những năm 80 của thế kỷ XIX bởi Tiến sĩ sĩ A.Simpson, người sáng lập HTGPALH (C&MA) nhưng phải tới năm 1911 khi giáo sĩ R.Horler với sự giúp đỡ của một Truyền đạo người Pháp là Bonnet (người của Thánh kinh hội), đã mua được đất và dựng nhà thờ, làm trụ sở truyền giáo ở Đà Nẵng, được coi là dấu mốc khởi đầu thực sự của đạo Tin lành ở Việt Nam [55]. Đến nay, Tin lành đã được công nhận là một trong những tôn giáo chính thức tại Việt Nam, với số lượng tín đồ lên tới 734. Cùng với việc số lượng tín đồ Tin lành ngày một tăng thì vai trò và ảnh hưởng của đạo Tin lành đến những tín đồ Tin lành nói riêng và người dân Việt Nam nói chung cũng ngày một mở rộng.
Coi Kinh thánh là giáo lý chính thức duy nhất của đạo mình, Tin lành hướng các tín đồ tuân thủ những điều được ghi trong Kinh thánh, những lời mà Chúa Jesu đã răn dạy. Tình yêu, tình dục, hôn nhân, gia đình là một trong số đó. Cụ thể, Kinh thánh đã nhấn mạnh rằng “Điều trước nhất và quan trọng hơn hết là các tín đồ phải thánh khiết về mặt đạo đức và tình dục” (IICôr 11:2; Tít 2:5; IPhi 3:2) và rằng, chỉ có tình dục trong hôn nhân mới đẹp lòng Chúa và được Chúa ban phước còn tất cả những mối tình dục ngoài hôn nhân đều là ô uế và tội lỗi. Tuy nhiên, xét theo những khía cạnh thực tế, tình dục là phần không thể thiếu trong trải nghiệm của con người, một hiện tượng phức tạp với những khía cạnh thể chất, tình cảm, xã hội và tâm linh (Susan Wood, 2007).
Bên cạnh đó, môi trường xã hội hiện đại với các phương tiện truyền thông đại chúng khuyến khích sự thử nghiệm tình dục khiến cho việc giữ được trinh tiết đến khi cưới trở nên khó khăn hơn (Ngô Đức Anh, 2009) và rằng, “tình dục 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đang có xu hướng tách khỏi hôn nhân thành một thực thể độc lập” (Khuất Thu Hồng, 2009). Là một nhóm tuổi ở giữa lứa tuổi trẻ em và tuổi trưởng thành, sự phát triển về thể chất ở thanh niên đã đạt đến đỉnh cao nhưng các yếu tố tâm lý mới được định hình và ổn định một cách tương đối. Chính vì vậy, đây là nhóm lứa tuổi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất từ quá trình toàn cầu hóa, giao thoa văn hóa và những biến động trong xã hội. Quan hệ tình dục trước hôn nhân ở nhóm thanh niên đang ngày một trở nên trong những năm gần đây đã nhận được rất nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau bởi lẽ việc tìm hiểu thái độ của thanh niên về quan hệ tình dục trước hôn nhân có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng cho cá nhân cũng như những nhà quản lý xã hội.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về tình dục trước hôn nhân phân theo từng tôn giáo khác nhau hay cụ thể là thanh niên theo đạo Tin lành lại rất hạn chế. Với những quy định nghiêm ngặt về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân vậy những thanh niên theo đạo Tin lành sẽ có quan niệm thế nào về vấn đề này? Liệu quan niệm của họ về tình dục trước hôn nhân có sự khác biệt nào với quan niệm của thanh niên nói chung? Vì những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Quan niệm của thanh niên theo đạo Tin lành tại Hà Nội về quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân” để làm sáng tỏ hơn nhận thức, thái độ và hành vi của thanh niên Tin lành về QHTD trước hôn nhân cũng như tìm hiểu tác động của Tin lành tới quan niệm của họ về vấn đề này. Tổng quan nghiên cứu 2.1 Những nghiên cứu về đạo Tin Lành tại Việt Nam Tác giả Nguyễn Xuân Hùng với bài viết “Về nguồn gốc và sự xuất hiện tên gọi đạo Tin lành tại Việt Nam” cho rằng, chỉ đến năm 1011, khi các giáo sĩ của Hội Liên hiệp Cơ Đốc và Truyền giáo (CMA) lập trụ sở truyền giáo thì 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc truyền đạo Tin lành cho người Việt Nam mới được bắt đầu và đến đầu những năm 30 tên gọi đạo Tin Lành được phổ biến và trở thành tên gọi phổ thông. Ngày nay, tên gọi đạo Tin lành trở thành tên riêng, phổ biến tại Việt Nam.
Tin lành mặc dù đã được truyền vào Việt Nam và phát triển hơn 100 năm nhưng do đặc điểm nhạy cảm về chính trị, những nghiên cứu về Tin lành không có nhiều và nếu có thì chủ yếu là những nghiên cứu, bài viết nhằm mục đích giới thiệu về sự hình thành, lịch sử phát triển, giáo lý và quá trình truyền đạo và phát triển của Tin lành ở Việt Nam hoặc là những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa Tin lành với các vấn đề chính trị hay văn hóa nói chung của Việt Nam. Viết về đạo Tin lành ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thanh Xuân – chủ biên hai cuốn sách “Bước đầu tìm hiểu đạo Tin lành trên thế giới và ở Việt Nam” (2002) và “Đạo Tin lành ở Việt Nam” (2008) đã khái quát về quá trình ra đời và phát triển của đạo Tin lành trên thế giới, các giáo lý, luật lệ, các lễ nghi, tổ chức giáo hội, sự giống và khác nhau giữa Tin lành và Công giáo. Trên cơ sở đó, tác giả đã trình bày quá trình du nhập, phát triển đạo Tin lành ở Việt Nam. Đây là những cuốn sách tham khảo có giá trị, giúp cho người đọc có cái nhìn đầy đủ về quá trình du nhập, phát triển của đạo Tin lành ở nước ta.
Bài viết “Mối quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam với các tổ chức Tin lành hiện nay” [10] của tác giả Nguyễn Hồng Dương trên cơ sở phân tích tính đặc thù về lịch sử truyền giáo phát triển đạo Tin lành và đặc thù về sự đa dạng tổ chức đạo Tin lành ở Việt Nam đã làm rõ mối quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam với các tổ chức đạo Tin lành, mối quan hệ này được thể hiện qua đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta với đạo Tin lành. Theo tác giả, với nguyên tắc tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, đặc biệt là những quy định tại Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo và Chỉ thị 01 của Thủ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin lành mà trọng tâm là việc công nhận tổ chức Hội Thánh Tin lành thì quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam với các hệ phái Tin lành vì vậy được cải thiện một cách cơ bản. Giáo sĩ, tín đồ dạo Tin lành tin tưởng vào đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tích cực thực hiện đường hướng hành đạo: Sống Phúc Âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc. Mã Phúc Thanh Tươi (2011) trong bài viết “Vài nét tương đồng trong đạo đức Tin lành và đạo đức truyền thống”, và Nguyễn Xuân Hùng với bài viết “Tìm hiểu những hệ quả của việc truyền giáo Tin lành đối với văn hóa truyền thống và tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam” đều xem xét Tin lành trong mối quan hệ với các giá trị văn hóa nói chung như đạo đức truyền thống, các tập tục gia đình, xã hội, tín ngưỡng cổ truyền… tại Việt Nam.
Dù có cho rằng có nhiều sự tương đồng giữa đạo đức Tin lành với đạo đức truyền thống (Mã Phúc Thanh Tươi) hay tồn tại những khác biệt giữa Tin lành với các tập tục của gia đình, xã hội, tín ngưỡng cổ truyền như Nguyễn Xuân Hùng phản ánh thì cả hai tác giả đều khẳng định mong muốn hòa nhập với văn hóa dân tộc của cộng đồng Tin lành nói chung. Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Thị Tâm (2003) trong báo cáo Người Mông Tin Lành ở Lào Cai: Cải đạo, thích nghi và bản sắc tộc người đã trình bày kết quả nghiên cứu thực địa về quá trình chuyển đổi niềm tin tôn giáo và nghi lễ truyền thống của một bộ phận người Hmong Tin lành, Lào Cai và những ảnh hưởng do thay đổi tôn giáo lên lối sống và bản sắc tộc người của họ. Theo như nghiên cứu, Tin lành đã thay đổi rất nhiều các khía cạnh trong cuộc sống của người dân Hmong tại nơi đây: Đặt văn hóa Hmong truyền thống trước nguy cơ bị biến dạng và chia rẽ thành hai tiểu văn hóa gồm văn hóa Hmong Tin lành và văn hóa Hmong duy linh. Hai tiểu văn hóa tồn tại song song với nhau, thỏa hiệp và xung đột nhau và ngày càng có xu hướng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tách khỏi nhau; Tin lành, trên thực tế đã đưa đến những thay đổi trong tôn ty trật tự của xã hội cổ truyền, tác động đến vai trò lãnh đạo của giới và tuổi tác và quan trọng hơn nữa, Tin lành cũng đã làm thay đổi đức tin và thực hành văn hóa thậm chí chia rẽ gia đình, bạn bè và dòng tộc thành các nhóm xã hội có niềm tin tôn giáo khác nhau.
Cũng nghiên cứu tác động của Tin lành nhưng là tác động tới thiết chế xã hội truyền thống, tác giả Nguyễn Văn Nam (2008) trong bài “Ảnh hưởng của đạo Tin lành với thiết chế xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên” đã trình bày sự ảnh hưởng của đạo Tin lành đối với thiết chế truyền thống xã hội như: sự phức tạp về chính trị với thiết chế xã hội truyền thống; sự phức tạp về xã hội, tập quán văn hóa; với tín ngưỡng truyền thống.