Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG TRƯỜNG PHỔ THÔNG CÓ NHIỀU CẤP HỌC ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Hệ thống và mục tiêu giáo dục Năm 1970, Tổ chức UNESCO đã thiết kế tiêu chuẩn phân loại GD chung, một công cụ để có thể lắp ráp, lập và trình bày số liệu thống kê GD của từng quốc gia và của quốc tế. Bản thiết kế này đã được sự chấp thuận của Hội nghị quốc tế về GD (Geneva, 1975); sau đó được xác nhận bởi UNESCO (Paris, 1978); tháng 11/1997, tại kỳ họp thứ 29 của Hội nghị UNESCO đã thông qua việc phân loại hiện nay (viết tắt ISCED 1997).
[10] Diễn đàn GD Thế giới 2015, tại Incheon, Hàn Quốc, từ ngày 19 đến ngày 22/5/2015 đã thông qua Tuyên bố Incheon về GD đến năm 2030: “Liên Hợp Quốc mong muốn các quốc gia cần có cách thức để đối mặt, hướng tới tương lai tốt, bền vững hơn vào năm 2030”. Với mục tiêu phát triển bền vững đảm bảo giáo dục chất lượng hòa nhập, công bằng và thúc đẩy cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người, trong đó có Mục tiêu bền vững số 4 (SDG4) về chất lượng GD đến năm 2030, đó là: “Đảm bảo tất cả bé trai và gái được tiếp cận giáo dục mầm non và giáo dục tiền tiểu học có chất lượng, chuẩn bị sẵn sàng cho các em vào tiểu học”; “Đảm bảo tất cả bé gái và bé trai hoàn thành chương trình GD tiểu học và trung học có chất lượng, bình đẳng một cách miễn phí, nhằm đạt được kết quả có hiệu quả tốt”. Mô hình trường học của một số quốc gia trên thế giới 1. Hệ thống giáo dục Mỹ Hệ thống GD Mỹ được xem một trong những hệ thống GD phát triển bậc nhất thế giới.
Không phải ngẫu nhiên mà tên tuổi các trường đại học như Harvard, Stanford, Yale… lại lừng lẫy khắp thế giới và du học Mỹ là niềm mơ ước của biết bao sinh viên. Hệ thống GD Mỹ được chia ra làm các bậc gồm có [12]: 5 6 GD mầm non: Là hình thức GD bắt buộc, dành cho độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo. GD tiểu học và trung học: Chương trình học kéo dài 12 năm, từ lớp 1 (6 tuổi) cho đến lớp 12. HS là công dân Mỹ được miễn học phí nếu theo học ở trường công.
GD bậc cao: gồm các cấp độ như đại học, thạc sĩ (master), tiến sĩ (PHD), Pot Doc… Ngoài ra, một số gia đình còn áp dụng hình thức GD tại nhà (home- schooling). HS được GD tại nhà vẫn có thể thi, nộp đơn xin học đại học, cao đẳng như bình thường. Kỳ học thường bắt đầu vào tháng Tám, tháng Chín hoặc tháng Năm, tháng Sáu. Từ bậc trung học, ngoài một số môn học bắt buộc như Mathematics (Toán), English/Literature (Văn học) thì HS Mỹ được tự lựa chọn lớp học, giờ học và GV cho các bộ môn khác.
Bảng điểm bao gồm cả “điểm” và “điểm trung bình” (GPA), là kết quả học tập SV đạt được. Các khóa học thường được tính điểm theo tỷ lệ phần trăm và sau đó được chuyển đổi ra điểm. Hệ thống điểm và điểm trung bình GPA tại Mỹ có thể không dễ hiểu đặc biệt đối với SV quốc tế. Ví dụ, hai SV học tại hai trường khác nhau cùng nộp bảng điểm cho một trường đại học.
Cả hai SV đều có số điểm trung bình là 3.5, nhưng một SV học trường trung học bình thường và SV kia học trường trung học danh tiếng với nhiều áp lực học tập hơn. Trường đại học có thể diễn giải điểm trung bình GPA của hai SV này khác nhau vì hai trường trung học có tiêu chí hoàn toàn khác nhau. Hệ thống giáo dục Đức Hệ thống GD của nước Đức được chia thành các cấp bậc sau: Mẫu giáo; trường tiểu học (6-9 tuổi); cấp hai (10- 16 tuổi): HS theo học các chương trình học khác nhau theo đúng học lực của mình. Cụ thể: Hauptschule (học từ lớp 5 - 9 ở hầu hết các bang): dành cho HS trung bình và kém.
Chương trình học có tốc độ chậm hơn và thiên về định hướng học nghề. 6 7 Realschule (học từ lớp 5 - 10 ở hầu hết các bang): dành cho HS khá. Gymnasium: dành cho HS khá giỏi. Sau khi tốt nghiệp Gymnasium, HS sẽ nhận được bằng tú tài (Abitur) và chuẩn bị cho HS lên học đại học hoặc đại học ứng dụng (vừa học, vừa làm).
THPT hoặc trung học chuyên nghiệp (từ 15 hoặc 16 -18 tuổi): Tùy vào kết quả học tập, HS có thể tiếp tục với các chương trình khác nhau: Học đại học: tốt nghiệp các trường Gymnasium hoặc trường trường cấp 3 tổng hợp (Gesamtschulen). Học nghề: các bạn tốt nghiệp Realschule, cấp 3 tổng hợp hoặc các bạn Hauptschule có điểm giỏi. Làm việc tại nhà máy: Chương trình thường bắt buộc phải làm nửa ngày ở nhà máy, nửa ngày đi học trên lớp cho tới khi đủ 18 tuổi. Đại học và sau Đại học: Hệ thống GD của Đức được xây dựng theo hai loại hình đào tạo, đó là hệ thống các trường đại học tổng hợp và các trường đại học khoa học ứng dụng.
Hệ thống các trường đại học tổng hợp (Uni, TU): Với các chương trình giảng dạy luôn phải được tuân thủ và định hướng theo nghiên cứu dựa trên nguyên tắc duy nhất: “Sự thống nhất trong nghiên cứu và giảng dạy”. Hệ thống những trường này luôn đóng vai trò nòng cốt trong GD đại học Đức từ trước đến nay. Hệ thống các trường đại học khoa học ứng dụng (FH): Chương trình đào tạo định hướng thực tiễn, chuyên sâu vào kiến thức nghề nghiệp và kỹ năng chuyên môn. Hệ thống giáo dục Úc Bậc học phổ thông (12 năm): gồm TH, THCS và THPT.
Bậc cao đẳng nghề: Thời gian đào tạo có thể dài ngắn khác nhau từ 3 tháng đến 3 năm, tương ứng với nó là các chứng chỉ bằng cấp khác nhau. Bậc đại học: 4 năm. Sau đại học: Các cấp độ học như Master, PhD. 7 8 Năm học của Úc thường bắt vào đầu tháng 2 đối với HS phổ thông và vào cuối tháng 2, đầu tháng 3 đối với SV học nghề và đại học.
Hầu hết các trường trung học giảng dạy từ 3 hoặc 4 học kỳ trong khi các trường đại học và dạy nghề chỉ có 2 học kỳ với kỳ thi cuối khóa mỗi học kỳ rơi vào cuối tháng 6 và tháng 11 [18]. Hệ thống giáo dục nước Hàn Quốc Là một quốc gia phát triển tại châu Á, Hàn Quốc còn được biết đến với nền GD tiên tiến, phát triển gồm: GD phổ thông: Chương trình kéo dài 6 năm cho độ tuổi mẫu giáo, tiểu học. THCS: Chương trình học 3 năm THPT: Chương trình học 3 năm Đại học chuyên môn (2-3 năm GD bậc cao: Cao đăng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ Năm học mới bắt đầu vào tháng 3, kỳ nghỉ diễn ra vào tháng Bảy, tháng Tám. Tuy nhiên, nền giáo dục Hàn Quốc cũng nổi tiếng bởi áp lực học hành, thi cử và cạnh tranh.
Đặc biệt để dành tấm vé vào đại học là rất khốc liệt. Hệ thống giáo dục Singapore Đất nước Singapore được mệnh danh là một trong 4 con rồng châu Á, cùng với Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng Kông. Không chỉ sở hữu nền kinh tế vững mạnh mà còn có nền GD phát triển tiên tiến. GD tại Singapore được nhà nước bao cấp về tài chính, từ bậc tiểu học, trung học đến các trường đại học công lập.
Tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất, chính thống tại Singapore và là ngôn ngữ được giảng dạy ở các trường công lập, ngoại trừ các môn học ngoại ngữ hoặc tiếng mẹ đẻ. Hệ thống GD Singapore gồm: Tiểu học (6 năm; phổ thông cơ sở (4-5 năm); các trường trung học/ dự bị đại học: HS có thể học dự bị đại học trong 2 năm tại các trường gọi là “Junior college”, cuối khóa dự bị đại học SV sẽ phải thi lấy chứng chỉ GCE “A” Level, sau đó nộp đơn vào học tiếp chương trình cử nhân tại các trường đại học công lập; trường cao đẳng (3 năm): 8 9 Dành cho những bạn không đạt để học chương trình dự bị đại học tại Singapore; GD bậc cao. [12] Năm học được chia làm 2 học kỳ, kỳ I từ đầu tháng 1 đến cuối tháng 5 và kỳ 2 từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 11. Nghiên cứu ở Việt Nam Hệ thống văn bản pháp quy về lĩnh vực xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia ngày một hoàn thiện đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng trường chuẩn quốc gia.
Trước năm 2000, GD-ĐT nước ta mặc dù đã được quan tâm nhưng nguồn lực dành cho GD chưa đủ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Trong đó, tình trạng CSVC nghèo nàn, điều kiện dạy học thiếu thốn, chất lượng GD còn thấp đã thôi thúc ngành GD xây dựng mô hình trường học mới - Trường học đạt chuẩn quốc gia. Đầu tiên là cấp tiểu học thực hiện từ năm 1997, tiếp đến là cấp học mầm non, THCS từ năm 2002 và THPT từ năm 2004, qua đó đã đạt được nhiều thành tựu lớn như: Đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập tiểu học từ những năm 2000, tiếp theo là phổ cập GD trẻ em 5 tuổi, 4 tuổi, phổ cập GD THCS [10]. Hội nghị sơ kết công tác KĐCL cơ sở GD mầm non, phổ thông và thường xuyên giai đoạn 2015-2020, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, Nguyễn Hữu Độ kết luận: “Ở Việt Nam, sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, nhất là trong giai đoạn 2015 - 2020, công tác kiểm định chất lượng cơ sở GD mầm non, phổ thông và thường xuyên đã đạt được những thành tựu quan trọng.
Việt Nam đã tham khảo kinh nghiệm về bảo đảm và kiểm định chất lượng GD của các nước trên thế giới, đồng thời cũng lựa chọn hướng đi cho riêng mình để phù hợp với thực tế. Thông qua công tác này, các cấp quản lý GD, các nhà trường được tiếp cận với mô hình quản lý hiện đại, tiên tiến”.