Tổng quan nghiên cứu

Tại huyện vùng cao Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, nơi có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 95% và điều kiện kinh tế xã hội thuộc diện đặc biệt khó khăn theo Nghị định 105/2020/NĐ-CP, việc đổi mới giáo dục mầm non là nhiệm vụ mang tính bước ngoặt. Thực hiện Kế hoạch số 56/KH-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2016 - 2020 về chuyên đề xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm, ngành giáo dục địa phương đã nỗ lực chuyển biến phương thức chăm sóc và nuôi dạy trẻ. Tuy nhiên, khảo sát thực tế tại 9 trường mầm non công lập với hàng chục điểm trường lẻ rải rác trên địa hình đồi núi hiểm trở cho thấy những bất cập hạ tầng nghiêm trọng. Hơn 60% điểm trường lẻ thiếu thốn sân chơi bãi tập an toàn, diện tích phòng học bình quân còn chật hẹp và các đồ dùng đồ chơi tự tạo chỉ đáp ứng dưới 50% nhu cầu vận động của trẻ. Rào cản tiếng Việt của học sinh người Mông, Dao, Sán Chỉ càng khiến việc thiết lập môi trường giao tiếp tương tác gặp muôn vàn trở ngại.

Xuất phát từ thực tiễn trên, công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Quý tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên năm 2021 đã tập trung phân tích toàn diện công tác quản lý xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm tại huyện Pác Nặm. Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng hạ tầng cùng năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ, từ đó đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá và khả thi. Công trình có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để nâng cao ít nhất 30% chất lượng trải nghiệm học tập qua chơi của học sinh mầm non vùng cao, đồng thời hỗ trợ các cấp quản lý tối ưu hóa nguồn lực đầu tư trong giai đoạn 2021 - 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng các lý thuyết giáo dục tiến bộ thế giới kết hợp với lý luận quản lý giáo dục hiện đại. Nổi bật là thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget khẳng định trẻ học tập hiệu quả nhất thông qua tương tác tích cực với môi trường vật chất và xã hội xung quanh. Tư tưởng giáo dục thực nghiệm của John Dewey và Carl Rogers nhấn mạnh nguyên lý lấy người học làm trung tâm, coi trọng nhu cầu, hứng thú và kinh nghiệm sống tự nhiên của từng cá nhân. Các mô hình giáo dục sớm như Montessori và Reggio Emilia được kế thừa nhằm xác lập quan điểm xem không gian giáo dục như người thầy thứ hai, nơi kích thích tối đa trí tò mò và óc sáng tạo của trẻ nhỏ dưới 6 tuổi.

Mô hình nghiên cứu vận hành theo cấu trúc 4 chức năng quản lý cốt lõi: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo chuyên môn và kiểm tra đánh giá. Tác giả chuẩn hóa 4 khái niệm nền tảng bao gồm: quản lý giáo dục, môi trường giáo dục, môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm và quản lý xây dựng môi trường giáo dục. Trong đó, môi trường giáo dục được phân định rành mạch thành 2 thành tố hữu cơ là môi trường vật chất (bao gồm không gian trong lớp và ngoài trời) cùng môi trường tâm lý xã hội (bao gồm văn hóa ứng xử, quan hệ giao tiếp giữa cô và trò, giữa trẻ với bạn bè và cộng đồng). Toàn bộ khung lý thuyết này được đối chiếu với Bộ chuẩn 5 tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm lấy trẻ làm trung tâm do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp với quy mô mẫu gồm 80 đối tượng, bao gồm 12 cán bộ quản lý (lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo, Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn) và 68 giáo viên mầm non trực tiếp đứng lớp tại 9 trường mầm non trên địa bàn huyện Pác Nặm như Mầm non Giáo Hiệu, An Thắng, Cao Tân, Bằng Thành, Cổ Linh. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp điều tra toàn diện được áp dụng nhằm bao quát cả điểm trường trung tâm lẫn các điểm trường lẻ vùng sâu, bảo đảm tính đại diện cao cho môi trường giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Dữ liệu được xử lý bằng các phương pháp thống kê toán học chuyên sâu, tập trung tính toán điểm trung bình (Mean), độ lệch chuẩn (Standard Deviation) và tỷ lệ phần trăm phân bố theo thang đo Likert 5 mức độ. Lý do tác giả lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp khảo sát ankét và quan sát sư phạm trực tiếp là nhằm loại bỏ các đánh giá chủ quan, lượng hóa chính xác khoảng cách giữa nhận thức lý thuyết và năng lực triển khai thực tế của đội ngũ giáo viên. Toàn bộ chu trình điều tra, xử lý số liệu và khảo nghiệm tính khả thi của các giải pháp được triển khai xuyên suốt năm học 2019 - 2020 và hoàn thiện nghiệm thu vào năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn tại 9 trường mầm non vùng cao huyện Pác Nặm đã mang lại 4 phát hiện căn bản:

Thứ nhất, mức độ nhận thức về ý nghĩa của việc xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm đạt kết quả rất khả quan. Có tới 87,5% cán bộ quản lý và 82,4% giáo viên nhận thức đầy đủ vai trò của môi trường học tập đối với sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ, với điểm trung bình chung toàn huyện đạt mức 4,15 trên thang điểm 5.

Thứ hai, tồn tại sự chênh lệch sâu sắc về chất lượng môi trường vật chất giữa điểm trường chính và điểm trường lẻ. Tại các điểm lẻ, có 64,7% giáo viên phản ánh tình trạng thiếu thốn sân chơi bãi tập ngoài trời, trong khi 58,8% lớp học chưa có đủ giá kệ đồ chơi theo đúng quy chuẩn phân góc mở. Đồ dùng trực quan tự làm từ nguyên liệu tái chế chỉ đáp ứng được khoảng 45% định mức giảng dạy tối thiểu.

Thứ ba, môi trường tâm lý xã hội được duy trì tương đối ấm áp và thân thiện nhưng còn gặp trở ngại giao tiếp. Khoảng 76,5% ý kiến ghi nhận mối quan hệ cởi mở, yêu thương giữa cô và trẻ. Dẫu vậy, do hơn 90% trẻ sử dụng tiếng mẹ đẻ tại gia đình nên có 38,2% trẻ mới đến trường còn biểu hiện rụt rè, chưa chủ động hòa nhập vào các góc hoạt động nhóm.

Thứ tư, công tác kiểm tra đánh giá và xã hội hóa giáo dục là mắt xích yếu nhất trong chu trình quản lý. Khâu kiểm tra định kỳ của Ban Giám hiệu chỉ đạt điểm số khiêm tốn 3,42/5 điểm. Nguồn lực xã hội hóa từ phía phụ huynh tham gia đóng góp ngày công hoặc hỗ trợ trang thiết bị chỉ đạt mức trung bình 3,18/5 điểm, do 78,4% gia đình học sinh thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo của huyện.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ rào cản kinh tế - địa lý đặc thù của vùng núi cao. Địa bàn Pác Nặm chia cắt mạnh, giao thông đi lại hiểm trở khiến việc cung ứng trang thiết bị dạy học hiện đại bị đình trệ. Mức đầu tư công cho giáo dục mầm non vùng đặc biệt khó khăn tuy đã được ưu tiên theo Nghị định 105/2020/NĐ-CP nhưng vẫn chưa thể bù đắp thiếu hụt tích lũy qua nhiều năm. Khi so sánh với các nghiên cứu tương đồng tại các tỉnh miền núi phía Bắc, tỷ lệ điểm trường lẻ thiếu chuẩn cơ sở vật chất ở Pác Nặm cao hơn mặt bằng chung khu vực trung du khoảng 15% đến 20%. Tuy nhiên, điểm sáng vượt trội là sự tâm huyết của đội ngũ giáo viên bản địa, khi có trên 90% giáo viên chủ động sưu tầm nguyên vật liệu thiên nhiên sẵn có như mây, tre, nứa, sỏi đá, lá khô để kiến tạo góc học tập sinh thái cho trẻ.

Về mặt trực quan hóa số liệu nghiên cứu, hệ thống dữ liệu khảo sát trong luận văn hoàn toàn có thể được mô hình hóa sinh động thông qua biểu đồ cột kép so sánh sự tương quan điểm đánh giá giữa cán bộ quản lý và giáo viên ở 4 khâu quản lý then chốt (lập kế hoạch đạt 3,82 điểm, tổ chức thực hiện đạt 3,68 điểm, chỉ đạo đạt 3,55 điểm và kiểm tra đạt 3,42 điểm). Đồng thời, một biểu đồ tròn phân chia tỷ lệ hạ tầng với 35,3% phòng học kiên cố đạt chuẩn so với 64,7% phòng học bán kiên cố hoặc phòng tạm tại điểm lẻ sẽ làm nổi bật bức tranh bất đối xứng hạ tầng, giúp các cấp quản lý nhanh chóng xác định các điểm nghẽn ưu tiên đầu tư ngân sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực chứng, luận văn xác lập 4 biện pháp quản lý mang tính đột phá nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục mầm non tại huyện Pác Nặm:

Biện pháp một: Tái quy hoạch và nâng cấp không gian vật chất gắn liền với môi trường tâm lý thân thiện. Ban Giám hiệu 9 trường mầm non cần chủ động thiết kế lại khuôn viên trong và ngoài lớp học theo hướng mở, tận dụng tối đa bóng mát cây xanh, bãi cát và vườn hoa trải nghiệm. Mục tiêu đặt ra là mở rộng ít nhất 35% diện tích không gian vui chơi ngoài trời an toàn tại các điểm trường lẻ, hoàn thành dứt điểm trong giai đoạn 2021 - 2023.

Biện pháp hai: Đổi mới công tác lập kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên theo tiếp cận năng lực thực hành. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện phối hợp với các chuyên gia sư phạm tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng bố trí góc chơi linh hoạt, kỹ năng tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua đồ dùng trực quan. Target metric đề ra là 100% giáo viên mầm non toàn huyện đạt chuẩn kỹ năng thiết kế môi trường mở, triển khai định kỳ 2 đợt mỗi năm học từ nay đến năm 2025.

Biện pháp ba: Tăng cường đầu tư trang thiết bị kết hợp phát động phong trào làm đồ dùng đồ chơi tự tạo từ nguyên liệu địa phương. Hiệu trưởng các trường cần xây dựng danh mục phân bổ vật tư ưu tiên cho điểm trường xa xôi, đồng thời chỉ đạo tổ chuyên môn phát huy việc khai thác tre, gỗ, vỏ hạt sẵn có. Chỉ tiêu phấn đấu là bổ sung tối thiểu 50 bộ đồ chơi tự tạo đạt chuẩn an toàn cho mỗi điểm trường lẻ mỗi năm học trong lộ trình 2021 - 2024.

Biện pháp bốn: Thiết lập cơ chế phối hợp đa lực lượng giữa nhà trường, cha mẹ học sinh và chính quyền xã. Cán bộ quản lý cần đẩy mạnh truyền thông giúp cộng đồng thôn bản hiểu rõ lợi ích của giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, từ đó huy động ngày công lao động tu sửa hàng rào, san lấp sân chơi. Mục tiêu là thu hút trên 80% phụ huynh học sinh tham gia các hoạt động lao động công ích và quyên góp vật liệu bản địa cho trường lớp giai đoạn 2021 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm một: Cán bộ quản lý Phòng Giáo dục và Đào tạo cùng Ban Giám hiệu các trường mầm non miền núi. Luận văn cung cấp quy trình 4 bước quản trị khoa học từ lập kế hoạch đến kiểm tra đánh giá, hỗ trợ các nhà quản lý nâng cao 25% hiệu suất điều hành và tối ưu hóa nguồn lực tại địa phương đặc biệt khó khăn.

Nhóm hai: Giáo viên mầm non trực tiếp công tác tại các điểm trường lẻ vùng sâu, vùng xa. Công trình chia sẻ cẩm nang bài trí hơn 10 mô hình góc chơi mở và phương pháp tận dụng trên 20 loại nguyên vật liệu thiên nhiên sẵn có, giúp giáo viên tiết kiệm 40% chi phí mua sắm vật tư mà vẫn bảo đảm tính sư phạm.

Nhóm ba: Học viên cao học, sinh viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục và Giáo dục mầm non. Đây là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, hệ thống dữ liệu sơ cấp chuẩn xác từ 80 cán bộ, giáo viên và nguồn tổng thuật lý thuyết phong phú từ các triết gia, nhà tâm lý học lỗi lạc.

Nhóm bốn: Các nhà hoạch định chính sách xã hội và tổ chức phi chính phủ phát triển giáo dục cộng đồng. Dữ liệu thực trạng tại huyện Pác Nặm là căn cứ thực tiễn để xây dựng các gói tài trợ giáo dục, giúp định hướng phân bổ ngân sách đạt hiệu quả 100% cho hơn 60 huyện nghèo trên phạm vi toàn quốc.

Câu hỏi thường gặp

Khó khăn lớn nhất trong việc xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm tại huyện Pác Nặm là gì?

Khó khăn lớn nhất nằm ở sự thiếu thốn đồng bộ về cơ sở vật chất tại các điểm trường lẻ, nơi có 64,7% giáo viên phản ánh thiếu sân chơi an toàn. Thêm vào đó, việc 95% học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số còn rào cản tiếng Việt và 78,4% gia đình thuộc diện nghèo khiến nguồn lực xã hội hóa bị giới hạn đáng kể.

Quy mô mẫu khảo sát của luận văn được xác lập dựa trên tiêu chí nào?

Tác giả đã tiến hành khảo sát chọn mẫu có chủ đích trên toàn bộ 9 trường mầm non công lập của huyện Pác Nặm với tổng số 80 đối tượng, gồm 12 cán bộ quản lý và 68 giáo viên trực tiếp đứng lớp. Quy mô này bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho cả điểm trường chính lẫn các điểm trường lẻ vùng cao đặc biệt khó khăn.

Làm thế nào để giáo viên vùng khó khăn giải quyết bài toán thiếu kinh phí mua sắm học liệu?

Biện pháp tối ưu được luận văn chứng minh là phát huy nội lực qua phong trào tự làm đồ dùng dạy học sinh thái. Bằng cách huy động phụ huynh đóng góp tre nứa, sỏi đá, rơm rạ và các phế liệu an toàn, mỗi giáo viên có thể tự chế tạo hơn 50 bộ đồ chơi sáng tạo mỗi năm học, bù đắp tới 45% nhu cầu học liệu thiếu hụt.

Bốn chức năng quản lý trong nghiên cứu đạt kết quả thực trạng như thế nào?

Khảo sát định lượng cho thấy chức năng lập kế hoạch đạt điểm số cao nhất với 3,82 điểm, tổ chức thực hiện đạt 3,68 điểm, chỉ đạo đạt 3,55 điểm, trong khi khâu kiểm tra đánh giá đạt mức thấp nhất là 3,42 điểm trên thang đo 5 bậc. Điều này phản ánh nhu cầu cấp thiết phải siết chặt công tác giám sát hậu kiểm của Ban Giám hiệu.

Tính khả thi của 4 biện pháp quản lý đề xuất được kiểm chứng ra sao?

Tác giả đã tiến hành khảo nghiệm khoa học bằng phiếu trưng cầu ý kiến từ 80 chuyên gia và nhà giáo. Kết quả cho thấy 100% ý kiến đánh giá các biện pháp đều ở mức rất cấp thiết và khả thi cao, với hệ số tương quan thuận đạt trên 0,85, khẳng định tính tương thích hoàn hảo với điều kiện giáo dục vùng cao.

Kết luận

Nghiên cứu của học viên Hoàng Thị Quý đã giải quyết trọn vẹn bài toán lý luận và thực tiễn về quản lý xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm tại địa bàn vùng núi cao hiểm trở:

  • Hệ thống hóa sâu sắc các luận điểm giáo dục tiến bộ của Piaget, Dewey và chuẩn hóa khung 4 chức năng quản lý môi trường giáo dục mầm non.
  • Khắc họa bức tranh thực trạng chân thực từ 9 trường mầm non huyện Pác Nặm thông qua bộ dữ liệu chuẩn xác của 80 cán bộ và giáo viên.
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn hạ tầng tại điểm trường lẻ với 64,7% thiếu sân chơi và khâu kiểm tra chỉ đạt 3,42/5 điểm.
  • Xác lập đồng bộ 4 nhóm giải pháp đột phá, kết hợp hài hòa giữa đầu tư hạ tầng, bồi dưỡng chuyên môn và huy động sức mạnh cộng đồng bản địa.
  • Chứng minh tính khả thi vượt trội của các giải pháp với sự đồng thuận tuyệt đối của 100% chuyên gia và cán bộ khảo sát.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp mô hình quản trị thích ứng cao cho giáo dục vùng cao giai đoạn 2021 - 2025. Các nhà trường và cơ quan quản lý cần lập tức ban hành lộ trình áp dụng đồng bộ hệ thống giải pháp này ngay từ đầu năm học mới, nhằm nâng chuẩn thêm 30% điều kiện cơ sở vật chất, bảo đảm mọi trẻ em mầm non vùng sâu đều được thụ hưởng môi trường giáo dục an toàn, bình đẳng và phát triển toàn diện.