CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về mối quan hệ giữa vốn vay ODA và tăng trưởng kinh tế ODA (viết đầy đủ tiếng Anh là Official Development Assistance) là nguồn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang phát triển, được các cơ quan chính thức của các Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ tài trợ. Các công trình nghiên cứu về ODA được thực hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau nhưng thường tập trung vào hai nội dung chính là (i) đánh giá vai trò và tầm quan trọng của vốn vay ODA đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia và (ii) vai trò và hiệu quả quản lý nhà nước đối với vốn vay ODA.
Mối quan hệ giữa ODA và tăng trưởng kinh tế cấp quốc gia Vốn là một yếu tố quan trọng quyết định sự tăng trưởng và phát triển của một quốc gia. Vốn ODA cũng là một bộ phận của vốn trong nền kinh tế và do đó có thể đóng góp tới tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Tuy nhiên, do hiệu quả sử dụng ODA của các địa phương, quốc gia khác nhau nên ODA có tác động khác nhau đến các nền kinh tế là khác nhau. Quan điểm sớm nhất về tác động của ODA được tác giả Schumpeter đưa ra năm 1954.
Ông lập luận rằng ODA chỉ dẫn đến tăng trưởng khi kết họp với việc chuyển giao tinh thần kinh doanh và kỹ năng mới, qua đó tăng cường sự hấp thụ năng lực của nền kinh tế nơi tiếp nhận ODA. Bởi đối với nước nhận ODA có môi trường và chính sách hợp lý, có năng lực thu hút, sử dụng và quản lý nguồn vốn ODA thì ODA sẽ đóng vai trò tích cực tới tăng trưởng kinh tế của nước nhận ODA. Nhưng nếu các nước nhận ODA có nền quản trị nhà nước yếu kém, tham nhũng, thì việc sử dụng ODA tràn lan, kém hiệu quả - chẳng hạn ở các nước Châu Phi và Mỹ La Tinh có thể gây gánh nặng trả nợ và cản trở tăng trưởng (Selaya, Sunesen, 2012). 6 Tổng quan các nghiên cứu trước về mối quan hệ của ODA với tăng trưởng kinh tế là khá đa dạng và cho kết quả khác biệt đối với những quốc gia và khu vực.
Quan điểm thứ nhất đề cập đến sự tác động một chiều của ODA tới tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Quan điểm này được đại đa số các nghiêu cứu ủng hộ. Về mặt lý thuyết, ODA là một bộ phận của vốn và vốn quyết định tới tăng trưởng kinh tế trong bất cứ mô hình tăng trưởng nào. Các nghiên cứu có kết quả thực nghiệm theo hướng này đều khẳng định ODA đóng vai trò quan trọng và dẫn tới tăng trưởng và giảm nghèo ở các quốc gia.
Mối quan hệ này được khẳng định thống nhất trong nhiều nghiên cứu của các tác giả từ năm Papenek (1972); Levy (1988); Addison và cộng sự (2005); Hamid Ali (2013) và Jones (2015). Kết quả này có thể luận giải thông quan các mô hình “hai khoảng cách” (Two-Gap Model) và mô hình “ba khoảng cách” (Three-Gap-Model), vốn ODA sẽ bổ sung cho phần tiết kiệm thấp ở trong nước đồng thời cải thiện cán cân ngoại hối của quốc gia. Các mô hình này nhấn mạnh thêm vai trò của ODA với cải thiện cán cân ngân sách nhà nước và chính sách tài khóa (Chenery, H. Những nghiên cứu khác theo hướng này tiến hành phân tích sâu hơn tác động vốn ODA dẫn tới tăng trưởng và chỉ ra rằng ảnh hưởng của vốn ODA còn phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể như vấn đề chính sách của chính phủ trong nghiên cứu của Hadjimichael và cộng sự (1995).
Nhóm tác giả này thực hiện nghiên cứu 41 quốc gia nhận ODA trong giai đoạn 1986-1992 ở khu vực Cận Sahara, Châu Phi và chỉ ra ảnh hưởng của chính sách mà chính phủ đưa ra tới hiệu quả tiếp nhận vốn ODA và tiếp đó ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế (Hadjimichael, M. Khía cạnh nghiên cứu khác được đề cập tới là vấn đề thể chế và quản trị nhà nước trong quá trình nhận và sử dụng ODA. Thể chế càng minh bạch ODA càng thúc đẩy tăng trưởng và ngược lại (Burnside, C. Nghiên cứu của hai tác giả Selaya và Sunesen công bố năm 2012 đã chỉ ra rằng ODA là điều kiện cần thiết để các quốc gia này tăng trưởng kinh tế.
Kết luận này được rút ra khi nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu thực nghiệm về ODA và tăng 7 trưởng kinh tế tại 99 quốc gia sử dụng ODA trong thời gian 1970-2001 (Selaya, Sunesen, 2012). Các nghiên cứu về tác động vốn ODA ở các quốc gia Châu Phi (Jones (2013) thực hiện tại các nước Tây Phi, Hamid Ali (2013) thực hiện tại Ai Cập, Albiman (2016) thực hiện tại Tanzania) đều khẳng định mối quan hệ nhân quả một chiều giữa vốn ODA đến với tăng trưởng kinh tế trong cả ngắn hạn và dài hạn (Jones, Y. Njangang và cộng sự (2018) sử dụng phương pháp phân tích định lượng và dữ liệu mảng của 36 quốc gia châu Phi trong giai đoạn 1980-2016 đã chỉ ra tác động của các nguồn vốn vay nước ngoài trong đó có vốn vay ODA trong phát triển kinh tế. Cụ thể, nghiên cứu chỉ ra tác động tích cực của vốn vay ODA trong dài hạn, tuy nhiên trong ngắn hạn lại không ảnh hưởng đến phát triển kinh tế.
Mức độ tác động của các nguồn vốn cũng phụ thuộc vào mức bình quân thu nhập của các quốc gia (Njangang, H. Quan điểm thứ hai lại đưa ra quan điểm trái ngược đó là không có mối quan hệ nhân quả giữa vốn ODA và GDP. Hai nhóm tác giả là Easterly và cộng sự (2004) và Boone (1995) đã nghiên cứu trong mẫu bao gồm 97 quốc gia đang phát triển nhận ODA và đưa ra kết luận là không có mối liên hệ nhân quả giữa ODA và GDP ở các nước nhận viện trợ. Thêm vào đó, tác giả Easterly còn kết luận rằng vốn ODA không làm tăng đầu tư ở đa số các nước tiếp nhận ODA (Boone, P., 1996), (Easterly, et al.
Theo Boon, vốn vay nước ngoài không thúc đẩy phát triển kinh tế vì hai lý do (i) nghèo đói không phải là do tình trạng thiếu vốn ngắn hạn, và (ii) việc các chính trị gia sửa đổi các chính sách và thủ tục khi họ nhận được nguồn vốn vay nước ngoài dẫn đến sự không tối ưu. Gupta và cộng sự cũng chỉ ra tác động ODA ngược chiều với tăng trưởng kinh tế (Gupta, K. Tương tự như vậy, Dhakal và cộng sự (1996) nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa ODA và tăng trưởng kinh tế cho 4 quốc gia Châu Phi trong giai đoạn 1960-1990 cũng không tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa ODA và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia này. Kyophilavong (2014) sử dụng số liệu của Lào để kiểm định 8 mối quan hệ nhân quả này và không tìm thấy dẫn chứng ODA tác động tới tăng trưởng và ngược lại.
Nguyên nhân mà các nghiên cứu chỉ ra là ODA khiến các chính phủ chưa cần nỗ lực tăng thuế, tạo ra một nền văn hoá phụ thuộc, bóp méo sự phân phối công bằng của sự giàu có trong nước, thúc đẩy tham nhũng và không hiệu quả trong các chính phủ ở các nước đang phát triển. Do vậy, ODA không tạo ra sự thay đổi đến tăng trưởng kinh tế. Quan điểm thứ ba chỉ ra tác động tiêu cực của vốn vay ODA. Moyo & Mafosu (2017) khi nghiên cứu về tác động của vốn vay ODA trong phát triển kinh tế tại Zimbabwe trong giai đoạn 1965-2000 chỉ ra mặc dù nhận được nhiều viện trợ nước ngoài nhưng đất nước này vẫn trong tình trạng kém phát triển và ngày càng bị phụ thuộc vào các nguồn tài trợ.
Farah và cộng sự (2017) khi nghiên cứu về tác động của vốn vay ODA tại Ethiopia chỉ ra tương quan không đáng kể của viện trợ đến tăng GDP, nhưng nền kinh tế đang bị phụ thuộc vào các nguồn vốn này thông qua nghiên cứu tương quan giữa vốn vay ODA với FDI và tỷ lệ thất nghiệp. Theo nghiên cứu của Atwood công bố năm 1996, chỉ một số ít các quốc gia bắt đầu nhận được hỗ trợ của Mỹ trong những năm 1950 và 1960 đã vươn lên thoát khỏi tình trạng phụ thuộc. Trong nhiều trường hợp, cái gọi là vốn vay nước ngoài đã được chứng minh là có tác động tiêu cực, tài trợ cho những kẻ độc tài tàn bạo để họ có thể xâm chiếm công dân của họ (Atwood, 1996). Bên cạnh đó, vốn vay nước ngoài nước ngoài còn tạo ra những mô hình phát triển không hiệu quả.
Bandow (1995) đã chỉ ra, nguồn vốn từ Mỹ và các nước phương Tây hỗ trợ chính phủ ở nhiều quốc gia mang tính không trung thực, tham nhũng và tập thể. Mitra và cộng sự (2015) cũng sử dụng phương pháp tương tự cho 13 quốc gia châu Á trong đó có Việt Nam trong giai đoạn 1971-2010 đã chỉ ra tác động tiêu cực của vốn vay ODA đối với thu nhập bình quân đầu người cả trong ngắn hạn và dài hạn. Nghiên cứu chỉ ra với 1% gia tăng vốn vay sẽ làm giảm 0.18% thu nhập bình quân đầu người trong dài hạn. Một trong những lý do được tác giả chỉ ra có thể do các khoản vay có điều kiện ràng buộc các quốc gia nhận viện trợ phải trả giá cao cho hàng hóa từ các quốc gia viện trợ.
Để thoát khỏi tình trạng phụ thuộc vào nguồn 9 vốn này, nghiên cứu đề xuất chính sách tăng cường tiết kiệm và đầu tư nội địa cùng với đó là mở rộng hội nhập quốc tế trong thương mại. Lý do khiến ODA có thể tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh như việc sử dụng ODA không hiệu quả, gây gánh nặng nợ nần, làm tăng giá trị đồng nội tệ thực tế dẫn đến mất khả năng cạnh tranh, khuyến khích tham nhũng và làm tổn hại tới sự phát triển thể chế (Fielding, 2007), ( Killick, 2007), (Moss, 2006), (Moyo, 2009). Mối quan hệ giữa ODA và tăng trưởng kinh tế địa phương Khi đề cập đến tăng trưởng kinh tế, người ta thường đề cập đến hai phạm vi nghiên cứu là cấp độ quốc gia (một quốc gia hay nhiều quốc gia) và của địa phương (vùng, bang, tỉnh/thành phố). Do việc phân cấp quản lý hành chính, kinh tế có khác nhau nên yêu cầu khách quan của công tác quản lý kinh tế và hoạch định chính sách vĩ mô của Chính phủ các nước khác nhau.