Chương 1: Lý luận chung và thực tiễn về quản lý vốn Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác tổ chức quản lý và sử dụng vốn tại VNPT Bắc Ninh giai đoạn 2008-2012. Chương 4: Một số giải pháp nâng cao công tác quản lý vốn tại VNPT Bắc Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN 1.
Những vấn đề chung về vốn 1. Khái niệm về vốn Khái niệm vốn kinh doanh: “ Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để hình thành các tài sản cần thiết cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Nói cách khác đó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tƣ và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận. Đặc trưng của vốn - Vốn phải luôn luôn vận động sinh lời.
Vốn đƣợc biểu hiện bằng tiền, để trở thành vốn thì đồng tiền đó phải vận động sinh lời tức là chúng phải đƣợc đƣa vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trong quá trình vận động, vốn chuyển hóa từ hình thái tiền tệ ban đầu sang hình thái hiện vật và kết thúc vòng tuần hoàn lại trở về hình thái ban đầu là tiền tệ nhƣng với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. - Vốn đại diện cho một lượng tài sản nhất định. Hay nói cách khác, vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản của doanh nghiệp.
- Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể đưa vào đầu tư sản xuất kinh doanh để sinh lời. Doanh nghiệp phải lập kế hoạch để huy động một lƣợng vốn đủ để đáp ứng nhu cầu đầu tƣ, mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh. - Vốn có giá trị thời gian. Điều đó có nghĩa là đồng vốn tại các thời điểm khác nhau thì có giá trị không giống nhau, do ảnh hƣởng của các yếu tố: lạm phát, tình trạng kinh tế… Do vậy, doanh nghiệp cần chú ý thời gian huy động và sử dụng vốn.
- Vốn là một loại hàng hóa đặc biệt. Vốn cũng có giá trị và giá trị sử dụng nhƣ hàng hóa thông thƣờng. Giá trị của vốn chính là bản thân nó, còn giá trị sử dụng của nó thể hiện ở việc đƣa vốn vào sản xuất kinh doanh tạo ra giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Ngoài ra vốn cũng đƣợc mua bán trên thị trƣờng, nhƣng điểm đặc biệt là chỉ mua và bán quyền sử dụng chứ quyền sở hữu vốn không thay đổi.
Giá mua chính là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 tiền lãi mà ngƣời “mua”(ngƣời vay vốn) phải trả cho “ngƣời bán”(ngƣời cho vay) để có đƣợc quyền sử dụng vốn. - Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu. Nắm đƣợc chủ sở hữu của vốn đƣa vào kinh doanh, doanh nghiệp mới có phƣơng án sử dụng vốn ngắn hạn, dài hạn cho hợp lý, hiệu quả hơn. - Vốn có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau.
Vốn không chỉ là biểu hiện bằng tiền của tài sản hữu hình (nhà xƣởng, máy móc, thiết bị.) mà còn là biểu hiện bằng tiền của những tài sản vô hình (bằng phát minh sáng chế, công nghệ, thƣơng hiệu. Phân loại vốn Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn, chia vốn kinh doanh thành hai loại: - Vốn cố định (VCĐ). Vốn cố định Vốn cố định là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các TSCĐ dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác, vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của các TSCĐ trong doanh nghiệp [12, tr 452].
* Đặc điểm luân chuyển VCĐ Một là, vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ đặc điểm của TSCĐ là đƣợc sử dụng lâu dài, sau nhiều năm mới thay thế, đổi mới. Hai là, trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn cố định đƣợc luân chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm. Phần giá trị luân chuyển này của vốn cố định đƣợc phản ánh dƣới hình thức chi phí khấu hao TSCĐ, tƣơng ứng với phần giá trị hao mòn TSCĐ của doanh nghiệp.
Ba là, sau nhiều chu kỳ kinh doanh vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Sau mỗi chu kỳ kinh doanh, phần vốn cố định đã luân chuyển tích lũy lại sẽ tăng dần lên, còn phần vốn cố định đầu tƣ ban đầu vào TSCĐ của doanh nghiệp lại giảm dần xuống theo mức độ hao mòn. Cho đến khi TSCĐ của doanh nghiệp hết thời hạn sử dụng giá trị của nó đƣợc thu hồi hết dƣới hình thức khấu hao tính vào giá trị sản phẩm thì vốn cố định cũng hoàn thành một vòng luân chuyển. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 * Tài sản cố định TSCĐ của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho các hoạt động của doanh nghiệp và thỏa mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn là TSCĐ.
Để quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp một cách khoa học, ngƣời ta thƣờng phân loại TSCĐ theo những tiêu thức chủ yếu sau: - Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế. - Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng. - Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng. - Phân loại tài sản cố định theo nguồn hình thành - Phân loại tài sản cố định theo cách khác.
Dựa vào cách phân loại này ngƣời quản lý nắm đƣợc tổng quát tình hình sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp sử dụng tối đa các TSCĐ hiện có trong doanh nghiệp, giải phóng nhanh các TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý. Đối với mỗi doanh nghiệp, việc phân loại và phân tích tình hình kết cấu TSCĐ giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kết cấu TSCĐ sao cho có lợi nhất để nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ của doanh nghiệp. * Phân loại tài sản cố định: Việc quản lý vốn cố định là công việc phức tạp và khó khăn, nhất là ở các Doanh nghiệp có tỷ trọng vốn cố định lớn, có phƣơng tiện kỹ thuật tiên tiến.
Trong thực tế tài sản cố định sắp xếp phân loại theo những tiêu thức khác nhau nhằm phục vụ công tác quản lý, bảo dƣỡng tài sản, đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại, từng nhóm tài sản. Phân loại theo hình thái biểu hiện gồm: Tài sản cố định hữu hình: Tài sản cố định hữu hình là những tƣ liệu lao động chủ yếu có tính chất vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận từng tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định), có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhƣng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu nhƣ nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 Tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định hữu hình (theo Quyết định 166/ 1999/ QĐ-BTC). Là mọi tƣ liệu lao động, là từng tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động đƣợc, nếu thoả mãn đồng thời cả hai tiêu chuẩn dƣới đây thì đƣợc coi là một tài sản cố định: 1- Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên 2- Có giá trị từ 5.000 đồng trở lên Trƣờng hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện chức năng hoạt động chính của nó mà do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó đƣợc coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập.
Các loại tài sản cố định hữu hình: + Nhà cửa, vật kiến trúc + Máy móc, thiết bị + Phƣơng tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn + Thiết bị, dụng cụ quản lý + Vƣờn cây lâu năm, súc vật làm việc và hoặc cho sản phẩm + Các loại tài sản cố định khác: là toàn bộ các tài sản cố định khác chƣa liệt kê vào 5 loại trên nhƣ tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật. Tài sản cố định vô hình. Tài sản cố định vô hình là những tài sản cố định không có hình thái vật chất, thể hiện một lƣợng giá trị đã đƣợc đầu tƣ có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của Doanh nghiệp nhƣ chi phí thành lập Doanh nghiệp, chi phí về đất sử dụng, chi phí về bằng phát minh, sáng chế, bản quyền tác giả, mua bản quyền tác giả, nhận chuyển giao công nghệ. Tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định vô hình (Theo Q/định 166/1999 BTC) Mọi khoản chi phí thực tế mà Doanh nghiệp đã chi ra có liên quan đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp nếu thoả mãn đồng thời 2 điều kiện sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 1- Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên 2- Có giá trị từ 5000.000 đồng trở lên, thì đƣợc coi là tài sản cố định và nếu không hình thành tài sản cố định vô hình thì đƣợc coi là tài sản cố định vô hình Nếu khoản chi phí này không đồng thời thoả mãn cả 2 tiêu chuẩn nêu trên thì đƣợc hạch toán thẳng hoặc đƣợc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của Doanh nghiệp.
Các loại tài sản cố định vô hình và nguyên giá của chúng: Chi phí về đất sử dụng: là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra có liên quan trực tiếp đến đất sử dụng bao gồm: tiền chi ra để có quyền sử dụng đất (gồm cả tiền thuê đất hay tiền sử dụng đất trả 1 lần, nếu có; chi phí cho đền bù giải phóng mặt bằng; san lấp mặt bằng, nếu có; lệ phí trƣớc bạ (nếu có). nhƣng không bao gồm các chi phí chi ra để xây dựng các công trình trên đất). Trƣờng hợp Doanh nghiệp trả tiền thuê đất hàng năm hoặc định kỳ nhiều năm thì các chi phí này đƣợc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong (các) kỳ, không hạch toán vào nguyên giá tài sản cố định.