mở đầu cho một cuộc chiến mới kéo dài gần nửa thế kỷ, đó là chiến tranh lạnh giữa phe Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa, mà đứng đầu là Liên Xô và Hoa Kỳ. Hai cường quốc này thực thi nhiều biện pháp, đặc biệt là về kinh tế để củng cố hệ thống đồng minh của mình. Trước tình hình đó, Mỹ thực hiện viện trợ ồ ạt cho Tây Âu nhằm ngăn chặn sự ảnh hưởng của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Kế hoạch viện trợ này được gọi là "Hỗ trợ phát triển chính thức" thông qua Ngân hàng Thế giới.
ODA được thực hiện trên cơ sở song phương hoặc đa phương. Hiện nay, khái niệm ODA được sử dụng khá phổ biến. Tùy theo từng cách tiếp cận, có nhiều cách hiểu khác nhau về ODA, cụ thể như sau: Theo Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) thì “Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức là những nguồn tài chính do các Chính phủ hoặc các Tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia viện trợ cho các quốc gia và các vùng lãnh thổ với mục tiêu chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi của quốc gia và các vùng lãnh thổ tiếp nhận, trong đó có yếu tố ưu đãi ít nhất là 25%”. [27, tr1] Theo Nghị định của Thủ tướng Chính phủ số 131/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2006, thì “Hỗ trợ phát triển chính thức được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ”.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.com Như vậy, ODA được hiểu là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi của các Tổ chức quốc tế (đa phương, song phương), Chính phủ các nước (thường là các nước phát triển) dành cho Chính phủ một nước (nước đang phát triển và nước chậm phát triển) nhằm giúp chính phủ nước đó phát triển kinh tế xã hội. Qua đó, ODA phản ánh mối quan hệ giữa hai bên: Bên tài trợ gồm các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, Chính phủ các nước phát triển và bên nhận tài trợ là Chính phủ một nước (thường là nước đang phát triển). Ở Việt nam: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là một hình thức hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các tổ chức Chính phủ, các tổ chức quốc tế (UNDP, ADB, WB, IMF, IFAD. Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) gọi chung là các đối tác viện trợ hay các nhà tài trợ nước ngoài.
ODA được thực hiện thông qua việc cung cấp từ phía các nhà tài trợ cho Chính phủ Việt Nam các khoản viện trợ không hoàn lại, các khoản vay ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán. Đặc điểm nguồn vốn ODA > ODA là nguồn vốn hỗ trợ phát triển Thực tế cho thấy ODA là hình thức hỗ trợ phát triển của Chính phủ các nước phát triển, các tổ chức quốc tế với các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển thông qua các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản cho vay với điều kiện ưu đãi. Các nước nhận ODA phải là các nước có thu nhập dưới mức trung bình theo chuẩn của Liên hợp quốc tức là các nước đang hoặc chậm phát triển. Trong các mục tiêu cung cấp ODA của các nhà tài trợ, mục tiêu vì các chương trình, dự án xóa đói, giảm nghèo, y tế, giáo dục, bảo đảm bền vững về môi trường là một phần quan trọng của viện trợ.
Mục tiêu này được thể hiện khá đậm nét trong các chương trình viện trợ của một số nước như Thụy Điển - một quốc gia được đánh giá là có nguồn viện trợ mang ý tưởng nhân đạo tiến bộ đã góp phần không nhỏ vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở các nước thế giới thứ ba. Bằng các chương trình hợp tác và phát triển, viện trợ của Thụy Điển đã giúp Chính phủ các nước tiếp nhận viện trợ lựa chọn những ưu tiên cần thiết trong việc thiết lập các thể chế tại chỗ và phát huy năng lực tại chỗ của các quốc gia này. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.com Đồng thời, viện trợ Thụy Điển cũng ủng hộ các cuộc cải cách thị trường và phát huy năng lực nhà nước sở tại. Với ý nghĩa đó, các chương trình ODA của Thụy Điển thường được hướng vào giải quyết các vấn đề như: giảm nghèo, giới, môi trường và phát triển bền vững, dân chủ và nhân quyền; trong đó hướng tới 4 mục tiêu là tăng trưởng các nguồn lực, công bằng về kinh tế - xã hội, độc lập về kinh tế và chính trị, phát triển dân chủ.
Một quốc gia khác được xếp vào diện những nhà tài trợ lớn của thế giới và cũng là nước luôn coi trọng mục tiêu phát triển kinh tế đó là Nhật Bản. Trong các mục tiêu cung cấp ODA của nước này, tính xã hội thể hiện ở yếu tố nhân đạo khá rõ nét, cụ thể: Bảo vệ môi trường và phát triển sẽ được tôn trọng như nhau; không sử dụng ODA vào mục đích quân sự hoặc không làm trầm trọng thêm những đối đầu quốc tế; nhằm duy trì và củng cố nền hòa bình và phát triển ổn định nền kinh tế - xã hội của các nước nhận viện trợ; thúc đẩy dân chủ hóa bước đầu đi vào kinh tế thị trường, đảm bảo quyền tự do và nhân quyền. > ODA là nguồn vốn có nhiều ưu đãi Như phân tích trên, ODA là nguồn vốn hợp tác phát triển. Với mục tiêu hỗ trợ cho các quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển, ODA là nguồn vốn có nhiều ưu đãi, không phải nguồn vốn mang tính thương mại.
Tính chất ưu đãi được thể hiện như sau: - Lãi suất thấp: Các khoản vay ODA thường có mức lãi suất rất thấp. Thông thường mức lãi suất dưới 3%/năm, trung bình 1-2%/năm. Ví dụ, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) cho Việt Nam vay 55 triệu USD năm 2004 để "phát triển giáo dục trung học cơ sở", với thời hạn 32 năm, 8 năm ân hạn, lãi suất 1%/năm trong thời gian ân hạn và 1,5%/ năm trong thời gian sau đó. - Thời hạn vay dài: Ngoài mức lãi suất thấp, thì ODA có thời gian vay dài.
Thời gian vay thường từ 25-40 năm mới phải hoàn trả. Ví dụ, như các khoản vay của Nhật Bản thường có thời hạn là 30 năm; Ngân hàng Thế giới là 40 năm; Ngân hàng Phát triển Châu Á là 32 năm,. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.com - Thời gian ân hạn: Đối với ODA vay: Thời gian từ khi vay đến khi phải trả vốn gốc đầu tiên tương đối dài, 10 năm đối với các khoản vay từ Nhật Bản và Ngân hàng Thế giới; và 8 năm đối với Ngân hàng Phát triển Châu Á. - Khoản cho vay/viện trợ lớn: Với các khoản cho vay/viện trợ của các nước phát triển và các tổ chức cho các nước đang và chậm phát triển thường có giá trị lớn.
Nguồn vốn ODA hàng năm cho các nước thường lên đến hàng tỷ USD. Đối với Việt Nam, các nhà tài trợ đã cam kết ủng hộ cho Việt Nam 7,386 tỷ USD vốn ODA cho năm tài khóa 2012. Mặc dù thấp hơn con số 7,905 tỷ USD của năm 2011 và con số 8,063 tỷ USD của năm 2010, nhưng đây vẫn là con số lớn trong bối cảnh các nền kinh tế lớn đang gặp nhiều khó khăn và đang có xu hướng lan rộng trên thế giới. [1, tr5] > ODA thường kèm theo những ràng buộc nhất định Thực tế cho thấy, các khoản ODA không phải chỉ là các khoản hỗ trợ các nước đang và kém phát triển mà đi kèm với nó là những ràng buộc nhất định về kinh tế hoặc chính trị.
Ràng buộc về kinh tế: Nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế, ODA được sử dụng như là một trong những cầu nối để đưa ảnh hưởng của nước cung cấp tới các nước đang phát triển. ODA được dùng để thiết lập các mối quan hệ ngoại giao, kinh tế với các nước tiếp nhận. Mặt khác, trên một giác độ nhất định, các nước còn sử dụng ODA để xuất khẩu tư bản, từ việc tạo ra các món nợ lớn dần cho đến việc các nước tiếp nhận ODA phải sử dụng chuyên gia của họ, mua vật tư, thiết bị của họ với giá đắt, thậm chí cả các điều kiện đấu thầu, giải ngân được đưa ra cũng là để làm sao với lãi suất thấp, có ưu đãi nhưng mà họ vẫn đạt được các mục đích khác nhau một cách hiệu quả nhất. Thực tế cho thấy, đi kèm với nguồn vốn ODA di chuyển từ các nước phát triển tới các nước đang và kém phát triển là dòng vốn đầu tư của tư nhân.
Lượng vốn đầu tư tư nhân đi kèm gấp hơn nhiều lần lượng vốn ODA và trong đó có phần không nhỏ của việc di chuyển ODA ban đầu. Khi đó các nước đang và kém phát triển để được tiếp nhận các khoản ODA Simpo PDF Merge and Split Unregistered Versionj- http://www.com thì thường phải chấp nhận cho phép các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp ở trong nước. Từ đó, hệ thống cơ chế chính sách đảm bảo quyền lợi, lợi ích, nghĩa vụ của các nhà đầu tư trong và ngoài nước từng bước được hình thành, trong đó chú ý tới việc tạo điều kiện cho các nhà đầu tư của các nước cung cấp ODA tham gia vào những lĩnh vực đầu tư có khả năng sinh lời cao. Thông qua đó, vốn ODA trở thành phương tiện để giúp các nước cung cấp viện trợ thâm nhập thị trường các nước đang phát triển một cách dễ dàng hơn và hàng hóa của nước ngoài có thể vào thị trường trong nước thông qua việc nước tiếp nhận ODA có những ưu đãi trong chính sách nhập khẩu của mình.
Như vậy, khả năng cạnh tranh và xâm chiếm thị trường của hàng hóa các nước cung cấp ODA so với hàng hóa trong nước tăng lên. Mặt khác, ODA được cung cấp không hoàn toàn bằng tiền mà bao gồm cả hàng hóa, thiết bị, máy móc do nước cung cấp sản xuất ra được quy đổi thành tiền; nghĩa là, ODA bao hàm cả việc tạo ra môi trường cho các thị trường xuất khẩu. Có thể nói, các ràng buộc về kinh tế của các nước cung cấp ODA là khá rõ ràng.