Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý vốn nhà nƣớc tại Công ty cổ phần Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích thực trạng quản lý vốn nhà nƣớc tại Công ty cổ phần Đầu tƣ Bảo Việt. Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhà nƣớc tại Công ty cổ phần Đầu tƣ Bảo Việt. 3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƢỚC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Vốn nhà nƣớc và công tác quản lý vốn nhà nƣớc tại doanh nghiệp là một nội dung quan trọng, đƣợc nhiều sự quan tâm của các học giả và các nhà nghiên cứu. Trong thời gian gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý vốn nhà nƣớc tại doanh nghiệp với nhiều khía cạnh khác nhau.
Có thể kể đến nhƣ: Luận án tiến sỹ kinh tế: “Đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối với các Tổng công ty 91 phát triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam” năm 2006, tác giả Nguyễn Xuân Nam đã phân tích các văn bản quy phạm pháp luật và một số mô hình về tập đoàn kinh doanh của một số nƣớc trên thế giới nhƣ: Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia,. Tuy nhiên, luận án vẫn tồn tại một số hạn chế: nội dung cơ bản của công tác quản lý vốn và tài sản tại các tập đoàn kinh doanh; phân tích thực trạng chƣa có tính liên kết cao; các giải pháp đề cập còn chung chung theo hình thức khuyến cáo mà không làm rõ đƣợc mô hình quản lý vốn và tài sản đối các tổng công ty 91 theo mô hình tập đoàn kinh doanh tại Việt Nam. Luận án tiến sỹ kinh tế: “Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng vốn của Tổng công ty Bƣu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)” năm 2008, tác giả Nguyễn Phi Hà đã làm rõ một số cơ sở lý luận về cơ chế huy động và sử dụng vốn tại Tổng công ty Bƣu chính viễn thông Việt Nam. Nghiên cứu cũng chỉ ra xu hƣớng phát triển trong thời gian tới đối với Tổng công ty Bƣu chính viễn thông Việt Nam khi chuyển mô hình hoạt động từ Công ty mẹ - con sang mô hình tập đoàn kinh tế.
Những khuyến nghị trong luận án tập trung hoàn thiện cơ chế huy động vốn và sử dụng vốn để đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời gian tới của các tổng công ty. Luận án tiến sỹ kinh tế: “Quản lý vốn Nhà nƣớc tại các doanh nghiệp sau cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nƣớc” năm 2009, tác giả Nguyễn Thị Thu Hƣơng tập trung làm rõ khái niệm về quản lý vốn Nhà nƣớc, đặc điểm vốn Nhà nƣớc, các nội 4 z dung cơ bản về quản lý vốn Nhà nƣớc tại các doanh nghiệp sau cổ phần. Đồng thời, luận án cũng đề cập đến những bất cập của văn bản chính sách đầu tƣ vốn của Nhà nƣớc tại doanh nghiệp và thực trạng quản lý vốn Nhà nƣớc tại tập đoàn, tổng công ty và công ty Nhà nƣớc trong việc quản lý và sử dụng vốn Nhà nƣớc. Luận án đồng thời đã chỉ ra bài học kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới về quản lý vốn Nhà nƣớc đầu tƣ tại doanh nghiệp, nhƣ: Thụy Điển, Hungary, Singapore, Trung Quốc và đề xuất nhiều giải pháp.
Điểm mới của luận án là chỉ ra mô hình quản lý vốn Nhà nƣớc đầu tƣ tƣơng đối phù hợp tại doanh nghiệp ở Việt Nam: Tổng công ty Đầu tƣ và kinh doanh vốn Nhà nƣớc (SCIC). Tuy nhiên, sau gần 10 năm đƣợc thành lập và đi vào hoạt động, SCIC đã không phát huy hết hiệu quả nhƣ kỳ vọng của Chính phủ, trong đó một hạn chế chính là do hoạt động của SCIC khá đơn giản chỉ chuyên trách về mua/bán phần vốn Nhà nƣớc tại doanh nghiệp, thu cổ tức và gửi ngân hàng. Đề tài nghiên cứu “Cải cách phƣơng thức quản lý, giám sát phần vốn Nhà nƣớc tại doanh nghiệp” năm 2009 của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ƣơng (CIEM). Công trình tập trung làm rõ một số nội dung cơ bản của phƣơng thức quản lý và giám sát vốn Nhà nƣớc đầu tƣ tại doanh nghiệp, trong đó khuyến nghị cần sớm đổi mới tăng quyền chủ động hoạt động sản xuất kinh doanh, tự chủ về tài chính, giảm sự can thiệp của cơ quan Nhà nƣớc trong quá trình hoạt động kinh doanh, tăng cƣờng giám sát thông qua kiểm toán độc lập, tiêu chuẩn của ngƣời đại diện chủ sở hữu, tách biệt chức năng quản lý kinh tế và chức năng quản lý Nhà nƣớc trong doanh nghiệp và hƣớng đến giảm dần số lƣợng DNNN ở một số lĩnh vực ngành nghề không cần thiết nắm giữ.
Bên cạnh đó, nghiên cứu đã chỉ ra ƣu nhƣợc điểm của một số mô hình quản lý vốn Nhà nƣớc tại doanh nghiệp ở một số nƣớc nhƣ: Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Newzeland, Australia,. Tuy nhiên, chƣa làm rõ đƣợc nội dung bản chất của lý thuyết và thực tiễn, chƣa chỉ ra đƣợc mô hình quản lý vốn áp dụng tại Việt Nam. Đề tài nghiên cứu “Chính sách và cơ chế quản lý vốn Nhà nƣớc tại các doanh nghiệp giai đoạn đến 2020” năm 2009, của Nguyễn Đăng Nam - Bộ Tài chính, chủ nhiệm đề tài. Đề tài khoa học đã phân tích và đánh giá đƣợc tác động của chính 5 z sách và cơ chế quản lý vốn Nhà nƣớc tại các doanh nghiệp đến hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời chỉ ra hạn chế và nguyên nhân.
Tuy nhiên, đề tài chỉ nghiên cứu dƣới góc độ quản lý của cơ quan công quyền, chƣa nghiên cứu ở góc độ quản lý của chủ sở hữu và cũng chƣa chỉ ra đƣợc mô hình quản lý vốn Nhà nƣớc tại Việt Nam. Đề tài nghiên cứu “Cơ chế chính sách tài chính đối với doanh nghiệp Nhà nƣớc sau cổ phần hoá” năm 2010, CIEM đề cập đến quản lý vốn Nhà nƣớc tại các DNNN sau cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả quản lý vốn tại doanh nghiệp, thông qua việc ban hành các tiêu chí đối với ngƣời đại diện vốn, cơ chế phối hợp của nhóm ngƣời đại diện vốn tại doanh nghiệp; tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp tài chính cho ngƣời quản lý doanh nghiệp; phẩm chất chính trị, đạo đức, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý Nhà nƣớc về tài chính đối với doanh nghiệp cũng nhƣ quyền lợi trách nhiệm của ngƣời đại diện vốn; sự phối hợp, kiểm tra và giám sát của các cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền trong quản lý vốn Nhà nƣớc tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu chƣa đề cập đến những đặc tính về tâm lý, hành vi, động cơ của ngƣời đại diện vốn Nhà nƣớc, hay sự kiêm nhiệm nhiều trọng trách khác nhau tại nhiều doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động,. có ảnh hƣởng đến quản lý vốn Nhà nƣớc.
Đây chính là bài toán đƣợc đặt ra từ lâu, cần có lời giải từ các nhà quản lý, để đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn Nhà nƣớc tại doanh nghiệp. Đỗ Thị Thục và Nguyễn Thị Thu Hƣơng, đồng tác giả của sách tham khảo: “Quản lý vốn Nhà nƣớc đầu tƣ tại các doanh nghiệp Việt Nam” năm 2011. Các tác giả đã tiếp cận khá thành công và luận giải các vấn đề mang tính thời sự về quản lý vốn Nhà nƣớc đầu tƣ tại các doanh nghiệp, chỉ ra nhiều phức tạp đó là: chƣa có quy định rõ ràng, cụ thể về quyền lợi, trách nhiệm của ngƣời đại diện hoặc kiêm nhiệm đại diện vốn; việc đầu tƣ của DNNN còn dàn trải, chồng chéo; cơ chế thoái vốn, cơ chế cung cấp thông tin và giám sát hoạt động đối với ngƣời đại diện vốn; chƣa tách bạch đƣợc chức năng quản lý Nhà nƣớc và chức năng chủ sở hữu,. Cuốn sách đề cập đến một số mô hình quản lý vốn của Nhà nƣớc đầu tƣ tại doanh nghiệp của một số nƣớc trên thế giới và rút ra một số bài học kinh nghiệm.
6 z Đồng thời các tác giả cũng đề xuất một số giải pháp và điều kiện áp dụng giải pháp để về quản lý vốn. Tuy nhiên, các tác giả chƣa xây dựng đƣợc mô hình quản lý vốn của Nhà nƣớc đầu tƣ vào doanh nghiệp tại Việt Nam một cách cụ thể để giải quyết các hạn chế nêu trên. Trần Đức Thiện (2014), Hoàn thiện chính sách quản lý vốn của Nhà nước trong Công ty cổ phần xây dựng miền Tây, Luận văn thạc sĩ kinh tế, trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả đã đi sâu nghiên cứu để nêu lên sự cần thiết phải hoàn thiện chính sách quản lý vốn nhà nƣớc trong giai đoạn hiện nay cho phù hợp với Luật Doanh nghiệp, phân tích đánh giá thực trạng chính sách quản lý vốn cũng nhƣ những vƣớng mắc, hạn chế của chính sách quản lý vốn nhà nƣớc ở các DN sau cổ phần hóa (CPH) và đƣa ra một số kinh nghiệm quản lý vốn Nhà nƣớc trong DNNN sau CPH của một số quốc gia, đồng thời luận văn đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý vốn nhà nƣớc nhằm tăng cƣờng công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần xây dựng miền Tây sau CPH.
Trần Thị Thúy (2014), Tái cơ cấu vốn tại Công ty cổ phần xây dựng Miền Tây, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế Chính trị, Học viện Chính trị quốc gia khu vực 1. Đề tài đã chỉ rõ quan điểm tái cơ cấu vốn tại Công ty cần định hƣớng đƣợc rõ ràng chính sách tài trợ và kết hợp các nguồn tài trợ nhƣ nào để chi phí vốn là thấp nhất và giá cổ phiếu là cao nhất. Để đảm bảo tính đúng đắn cho các quyết định thì nhà quản trị cần dựa trên những căn cứ khoa học nhƣ xác định chi phí vốn theo nguyên tắc thị trƣờng và nguyên tắc đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận. Đây là những nguyên tắc cơ bản của thị trƣờng, có vai trò quan trọng trong quá trình hoàn thiện cơ cấu vốn của Công ty.
Nguyễn Thị Vân Anh (2015), Nghiên cứu một số giải pháp tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình ở Công ty Cổ phần Than Vàng Danh-Vinacomin, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Đại học Kinh tế Quốc dân.