Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách nhà nước cấp quận. - Chương 2: Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách nhà nước của quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. - Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN của quận Hai Bà Trưng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XDCB TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP QUẬN 1.
Những vấn đề chung về vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản từ NS cấp quận 1. Ngân sách Nhà nước và vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN 1. Ngân sách Nhà nước Trong hệ thống tài chính nói chung, NSNN là bộ phận chủ đạo, là điều kiện vật chất quan trọng để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước do Hiến pháp quy định, là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội. Thuật ngữ NSNN có nguồn gốc xuất xứ từ các nước Tây Âu trong thời kỳ công nghiệp hóa vào thế kỷ 18 và 19, có nghĩa là cái ví.
Tuy nhiên trong lĩnh vực kinh tế, thuật ngữ này đã thoát ly ý nghĩa ban đầu và mang nội dung hoàn toàn mới. Theo quan niệm của Liên Xô, cuốn từ điển bách khoa toàn thư đã định nghĩa ngân sách là “bảng kê chi tiết các khoản thu chi bằng tiền trong giai đoạn nhất định của Nhà nước; là mọi kế hoạch thu chi bằng tiền bất kỳ của một cơ quan, cá nhân nào trong một giai đoạn nhất định”. Cuốn tư liệu xanh của Pháp được ấn hành nhằm hướng dẫn một số luật định tài chính và thuế, lại đưa ra khái niệm Ngân sách là “chứng từ dự kiến cho phép các khoản thu chi hàng năm của Nhà nước; toàn bộ tài liệu kế toán mô tả, trình bày các khoản chi phí của Nhà nước trong một năm”. Từ những khái niệm về NSNN nêu trên, ta có thể rút ra một số nhận xét như sau: Thứ nhất, ngân sách là một bảng liệt kê, trong đó dự kiến cho phép thực hiện các khoản thu, chi bằng tiền của một chủ thể nào đó; Thứ hai, NSNN tồn tại trong khoảng thời gian nhất định, thường là một năm; Thứ ba, NSNN là những quan hệ kinh tế phát triển trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau.
NSNN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản chi cụ thể. Thu chi NSNN không giống bất kỳ hình thức thu chi nào khác, thu chi NSNN được 8 thực hiện bằng luật pháp, do luật định. Từ đó làm cơ sở cân đối giữa thu và chi NSNN. Mặt khác NSNN còn phản ánh các quan hệ kinh tế giữa một bên là Nhà nước, một bên là các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi Nhà nước tham gia phân phối nguồn tài chính theo nguyên tác không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Những khoản thu, chi NSNN là các quan hệ được xác định trước, được định lượng và Nhà nước sử dụng chúng để điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế."" Kết hợp giữa việc vận dụng các quan niệm của thế giới và trong nước, ở Việt Nam, khái niệm về NSNN được quy định trong Luật Ngân sách nhà nước năm 2015: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, theo quy định hiện hành, cụ thể: Một là, ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Hai là, ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện, để theo sát với đề tài, tác giả gọi tắt là ngân sách cấp quận), bao gồm ngân sách cấp quận và ngân sách các xã, phường, thị trấn; Ba là, Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã); Trong đó, ngân sách trung ương giữ vai trò là chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia như: các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có tác động đến cả nước hoặc nhiều địa phương, các chương trình, dự án quốc gia, các chính sách xã hội quan trọng, điều phối hoạt động kinh tế vĩ mô của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách. Các dự án mà ngân sách trung ương đầu tư có thể kể đến bao gồm: đường quốc lộ, bến cảng, nhà ga, sân bay.
9 Ngân sách địa phương được cấp trên phân cấp nguồn thu, bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý. Các công trình mà ngân sách địa phương đầu tư bao gồm: Trường học, bệnh viện, đường tỉnh. do địa phương quản lý. Tại một địa phương có thể sẽ có hai nguồn vốn đầu tư, một là nguồn ngân sách Trung ương đầu tư các công trình trên địa bàn, hai là ngân sách địa phương.
Đầu tư và vốn đầu tư xây dựng cơ bản * Đầu tư và đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư là quá trình mà nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản (hữu hình hoặc vô hình) để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật nhằm đạt các mục đích nhất định. Có thể hiểu khái quát, đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại để đem lại những kết quả trong tương lai lớn hơn. Xét về mặt sở hữu thì đầu tư có hai hình thức đầu tư chính là đầu tư tư nhân và đầu tư nhà nước. Ngoài ra còn có sự liên kết giữa nhà nước và tư nhân trong đầu tư (liên kết đầu tư).
Đầu tư tư nhân là hình thức đầu tư trong đó chủ thể đầu tư là các nhà tư nhân, họ bỏ vốn, tài sản để tiến hành đầu tư, nhằm mục đích thu lợi nhuận tối đa. Đầu tư nhà nước là hình thức đầu tư trong đó chủ thể đầu tư là nhà nước với tư cách là đại diện của xã hội, bỏ vốn, tài sản để tiến hành đầu tư nhằm mục địch phục vụ lợi ích cho cộng đồng dân cư, cho toàn xã hội (lợi ích công cộng). Căn cứ theo lĩnh vực đầu tư thì đầu tư gồm đầu tư phát triển, đầu tư ngành và đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB). Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư mà các chủ thể đầu tư bỏ vốn, tài sản để tiến hành hoạt động đầu tư, nhằm nâng cao tiềm lực sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập của người lao động và chủ thể đầu tư.
Đầu tư ngành là hình thức đầu tư tập trung vào từng ngành, từng lĩnh vực của sản xuất, kinh doanh. Như, đầu tư trong công nghiệp, đầu tư trong nông nghiệp, đầu tư trong dịch vụ… 10 Đầu tư XDCB là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế để phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư XDCB là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau, tạo điều kiện để phát triển và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung. Đầu tư XDCB trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế.
Hoạt động đầu tư XDCB là hoạt động đòi hỏi một số lượng vốn lớn. * Vốn đầu tư xây dựng cơ bản Vốn đầu tư XDCB là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán. Vốn đầu tư XDCB được chia thành bốn loại chính: Thứ nhất, vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước: Là nguồn vốn hình thành trong hoạt động tài chính nhà nước theo Luật ngân sách. Đây là nguồn vốn đầu tư chủ yếu để đảm bảo phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của đất nước thông qua cấp phát không mang tính thu hồi nhưng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo tiền đề cho phát triển kinh tế.
Cơ sở hạ tầng tốt, sẽ khuyến khích và thu hút các nhà đầu tư, làm ra nhiều giá trị gia tăng cho xã hội và nhà nước sẽ có thêm nguồn thu để tái đầu tư vào các công trình hạ tầng và phục vụ cho các nhiệm vụ của nhà nước. Thứ hai, vốn đầu tư XDCB từ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế (gọi chung là doanh nghiệp): được hình thành từ nguồn vốn góp, vốn điều lệ, thu nhập của hoạt động sản xuất, kinh doanh. nguồn vốn quan trọng để hình thành lên cơ sở 11 vật chất của các doanh nghiệp: văn phòng, nhà máy, xưởng sản xuất, kho bãi. để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Huy động được nguồn vốn này tham gia vào xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội là rất quan trọng, để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, giảm giá thành, đóng góp nhiều cho nhà nước đồng thời phối hợp khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng nhà nước đã đầu tư, tăng nguồn thu cho ngân sách. Thứ ba, vốn đầu tư XDCB từ nước ngoài, bao gồm vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài, vốn vay nước ngoài và vốn viện trợ của các tổ chức nước ngoài (ODA).