CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG VIỄN THÔNG TẠI DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1. Cơ sở hạ tầng viễn thông tại doanh nghiệp viễn thông 1. Khái niệm cơ sở hạ tầng viễn thông tại doanh nghiệp viễn thông Điều 3 Luật VT số 41/2009/QH12 xác định: (i) VT là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác [7]; (ii) DNVT là DN được thành lập theo pháp luật Việt Nam và được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ VT. DNVT gồm DN cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng và DN cung cấp dịch vụ không có hạ tầng mạng [7].
Điều 3 Luật VT số 41/2009/QH12 cũng đưa ra định nghĩa về CSHT VT của DNVT như sau: CSHT VT của DNVT là tập hợp thiết bị viễn thông, đường truyền dẫn, mạng viễn thông và công trình viễn thông [7]. Trong đó: - Thiết bị viễn thông là thiết bị kỹ thuật, bao gồm phần cứng và phần mềm, được dùng để thực hiện viễn thông [7]. - Đường truyền dẫn là tập hợp thiết bị viễn thông dùng để xác lập một phần hoặc toàn bộ đường truyền thông tin giữa hai điểm xác định [7]. - Mạng viễn thông là tập hợp thiết bị viễn thông được liên kết với nhau bằng đường truyền dẫn để cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ ứng dụng viễn thông [7].
- Công trình viễn thông là công trình xây dựng, bao gồm hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động (nhà, trạm, cột, cống, bể) và thiết bị mạng được lắp đặt vào đó [7]. Đặc điểm của cơ sở hạ tầng viễn thông tại doanh nghiệp viễn thông Hệ thống CSHT VT của DNVT có một số đặc điểm cơ bản sau đây: - VĐT, bảo trì, bảo dưỡng, nâng cấp lớn: Hệ thống CSHT VT của các DNVT 10 phải đủ mạnh để có thể phục vụ một lượng khách hàng rất lớn của trong và ngoài nước. Đó là những thiết bị có hàm lượng khoa học công nghệ cao, giá trị lớn; là những công trình có quy mô đầu tư lớn. Các DNVT cũng phải thường xuyên bảo trì, bảo dưỡng, nâng cấp nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ VT, đảm bảo năng lực cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ VT của DNVT so với các đối thủ cạnh tranh, khi mà tốc độ phát triển của khoa học công nghệ ngành VT rất nhanh.
- Trải rộng trên địa bàn cả nước, có thể ở cả nước ngoài: Với đặc thù của việc truyền thông tin trong mạng VT, các DNVT phải đầu tư các công trình, các thiết bị VT ở nhiều địa bàn (theo thiết kế kỹ thuật); bao gồm cả các địa điểm ở nước ngoài đối với các DNVT có hoạt động kinh doanh ở nước ngoài (như Viettel). Điều này đòi hỏi lượng VĐT lớn từ phía các DNVT cho hệ thống CSHT VT. Vai trò của cơ sở hạ tầng viễn thông tại doanh nghiệp viễn thông Hệ thống CSHT VT của DNVT có một số vai trò cơ bản sau đây: - Đối với DVTT: Hệ thống CSHT VT là cơ sở để DNVT xây dựng kế hoạch SXKD. Nếu DNVT có hệ thống CSHT VT rộng khắp, được đầu tư công nghệ hiện đại, thì DN có thể cung cấp nhiều loại dịch vụ VT khác nhau với chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh, tức là sẽ tạo ra cho DNVT rất nhiều lợi thế trong hoạt động SXKD.
Ngược lại, nếu DNVT có hệ thống CSHT VT hạn chế thì khả năng cạnh tranh và phát triển SXKD sẽ thấp. Chính vì vậy, việc không ngừng đầu tư phát triển hệ thống CSHT VT là yêu cầu đặt ra đối với các DNVT. - Đối với khách hàng của DNVT: Năng lực phục vụ của hệ thống CSHT VT của DNVT sẽ quyết định chất lượng dịch vụ mà khách hàng sử dụng. Do đó, khách hàng thường có xu hướng lựa chọn sử dụng dịch vụ của những DN có chất lượng dịch vụ tốt, cũng tức là những DN có hệ thống CSHT VT hiện đại.
- Đối với nền kinh tế, xã hội: Hệ thống CSHT VT là phương tiện truyền dẫn thông tin liên lạc qua một khoảng cách địa lý. Qua đó, nó có đóng góp quan trọng đối với các hoạt động kinh tế, xã hội của một quốc gia. Cụ thể: (i) Tạo điều kiện cung cấp mọi thông tin cơ bản cần thiết cho sản xuất và thúc đẩy các hoạt động SXKD; (ii) 11 Tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế, xã hội, thúc đẩy phát triển sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; (iii) Tạo tiền đề và điều kiện mở rộng thị trường trong nước, gắn thị trường trong nước với thị trường nước ngoài, thúc đẩy quá trình đưa đất nước chuyển mạnh sang kinh tế thị trường; (iv) Góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế, phương thức quản lý tổ chức sản xuất;. Vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông tại doanh nghiệp viễn thông 1.
Khái niệm vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông tại doanh nghiệp viễn thông Đối với một DNVT, để tiến hành các hoạt động SXKD, DN cần phải có các yếu tố đầu vào cơ bản như nhà xưởng, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, sức lao động,. Mà để có được các yếu tố đó, DN phải ứng ra một lượng tiền tệ nhất định, phù hợp với quy mô và điều kiện SXKD của mình. Số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư mua sắm, hình thành nên các tài sản cần thiết cho các hoạt động của DN được gọi là vốn của DN. Như vậy, có thể hiểu rằng: Vốn là toàn bộ số tiền ứng trước mà DN phải bỏ ra để đầu tư hình thành nên các tài sản cần thiết cho quá trình SXKD của mình.
Theo khía cạnh kế toán, vốn được hiểu là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản mà DNVT đang nắm giữ, có khả năng huy động, khai thác và sử dụng vào hoạt động SXKD nhằm mục đích sinh lời. Nói cách khác, vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản, còn tài sản là hình thái hiện vật của vốn tại từng thời điểm nhất định. Theo quy định tại Điều 3 Luật Đầu tư số 61/2020/QH14: VĐT là tiền và tài sản khác theo quy định của pháp luật về dân sự và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh [10]. Một DNVT nói chung có thể thực hiện một hoặc nhiều dự án đầu tư khác nhau phụ thuộc vào nguồn lực tài chính của mình.
Khi đó, VĐT của DN thông thường sẽ gắn liền với các dự án đầu tư cụ thể. VĐT bao gồm vốn chủ sở hữu của DNVT (có thể là một phần hoặc toàn bộ), vốn huy động, vốn vay từ các cá nhân, tổ chức khác. Như vậy, áp dụng các khái niệm có liên quan vào trường hợp nghiên cứu, luận văn xác định rằng: Vốn đầu tư phát triển CSHT viễn thông tại doanh nghiệp viễn 12 thông là toàn bộ tiền và tài sản khác theo quy định của pháp luật, được DNVT huy động để chi trả cho các hoạt động của các dự án đầu tư phát triển CSHT VT, nhằm phục vụ cho hoạt động SXKD của DN. Trong đó, theo Điều 3 Luật Đầu tư số 61/2020/QH14: Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định [10].
Đặc điểm của vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông tại doanh nghiệp viễn thông VĐT phát triển CSHT VT tại DN quốc phòng có đặc điểm như VĐT phát triển CSHT VT tại các DN viễn thông: - Thường có giá trị lớn: Với đặc thù của ngành VT, các DNVT thường là những DN có quy mô vốn lớn, CSHT VT cũng thường có giá trị đầu tư lớn. Do đó, nguồn vốn để đầu tư phát triển CSHT VT thông thường cũng có giá trị lớn. Điều này đòi hỏi DNVT phải có năng lực tốt trong huy động và quản lý sử dụng VĐT phát triển CSHT VT mới có thể đảm bảo được hiệu quả của các dự án đầu tư phát triển CSHT VT của mình. - Việc lập và thực hiện kế hoạch VĐT phát triển CSHT VT gắn liền với chu trình các dự án đầu tư.
Do việc phát triển CSHT VT thường đòi hỏi quy mô nguồn VĐT lớn, nên các DNVT đều phải đảm bảo nguyên tắc đầu tư theo dự án. Khi xây dựng và thực hiện kế hoạch VĐT các dự án phát triển CSHT VT, các DNVT cần bám sát vào kế hoạch đầu tư, vào chu trình dự án đầu tư (từ khâu chuẩn bị dự án đến tổ chức thực hiện và nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng), việc này đảm bảo việc lập và thực hiện kế hoạch VĐT sát với nhu cầu sử dụng thực tế của các dự án, đảm bảo hiệu quả đồng vốn. Phân loại vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông tại doanh nghiệp viễn thông VĐT phát triển CSHT VT tại DNVT có thể phân loại theo 02 tiêu thức cơ bản sau đây: - Phân loại theo nguồn vốn. Theo nguồn vốn, VĐT phát triển CSHT VT tại 13 DNVT bao gồm 03 loại: + Vốn chủ sở hữu: là khoản tài sản thuộc sở hữu của DN, bao gồm cả vốn điều lệ và lợi nhuận trong quá trình vận hành hoạt động SXKD thu lại được.
Trong đó, vốn điều lệ (theo Điều 4 Luật DN số 59/2020/QH14) được định nghĩa là tổng giá trị tài sản do các thành viên công ty, chủ sở hữu công ty đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng mệnh giá cổ phần đã bán hoặc được đăng ký mua khi thành lập công ty cổ phần [9]. + Vốn huy động, bao gồm vốn huy động từ bên trong và vốn huy động từ bên ngoài. Trong đó: Vốn huy động từ bên trong DN bao gồm: (i) Vốn huy động từ quỹ khấu hao (Để bù đắp giá trị tài sản cố định bị hao mòn trong quá trình SXKD, DN phải dịch chuyển dần phần giá trị hao mòn đó vào giá trị sản phẩm, dịch vụ sản xuất trong kỳ gọi là khấu hao tài sản cố định. Bộ phận giá trị hao mòn được dịch chuyển vào giá trị sản phẩm, dịch vụ được coi là một yếu tố chi phí sản xuất sản phẩm, dịch vụ, được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao tài sản cố định.