CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, viễn thông được coi là dịch vụ thiết yếu của con người (ITU, 1998) vì thông qua nó con người tiếp nhận được kiến thức, một nhân tố không thể thiếu đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và mỗi quốc gia. Khi một dịch vụ được coi là thiết yếu thì nhất thiết nó phải được phổ cập để mọi người có thể sử dụng. Mỗi quốc gia cần phải có chiến lược của mình để phát triển mạng lưới viễn thông đến gần với người sử dụng, đồng thời cũng phải có chiến lược giá cả hợp lý để mọi người có thể sử dụng dịch vụ viễn thông (DVVT) mà không bị ảnh hưởng lớn đến cân đối ngân sách của mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình.
Với cách tiếp cận xã hội học, DVVT cần phải được phổ cập bởi vì: Trong xã hội, mặc dù điện thoại đã xuất hiện từ lâu và phát triển rất nhanh, nhưng do mục tiêu lợi nhuận nên hầu hết điện thoại được phát triển ở cỏc vựng đô thị, cỏc vựng tập trung dân cư và cỏc vựng kinh tế phát triển. Cũn cỏc vựng khụng đem lại lợi nhuận thì bị các nhà kinh doanh bỏ qua. Như vậy, vô hình trung các doanh nghiệp viễn thông (DNVT) đã bỏ mặc một bộ phận dân cư trong xã hội không được sử dụng điện thoại. Về vấn đề này, Nhà nước không thể để cho dịch vụ điện thoại phát triển tự do theo sự điều tiết của các quy luật kinh tế thị trường được.
Nhà nước sẽ sử dụng công cụ của mình để điều tiết sao cho các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước phải được phát triển một cách hài hoà. Nhà nước coi phổ cập dịch vụ điện thoại là trách nhiệm chung, trước hết là của các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại. Trách nhiệm đó được thực hiện bằng cách yêu cầu các doanh nghiệp phải cung cấp dịch vụ điện thoại ở cỏc vựng khó khăn; hoặc yêu cầu các doanh nghiệp phải đóng góp vào quỹ phổ cập dịch vụ và Nhà nước dùng quỹ này để thuê một doanh nghiệp nào đó làm nhiệm vụ cung cấp dịch vụ phổ cập. Với cách tiếp cận kinh tế học, DVVT cần phải được phổ cập vì 2 lý do chính: Một là: DVVT là hàng hóa được cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu liên lạc cho mỗi và mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan đơn vị… trong sinh hoạt đời sống xã hội, trong sản xuất kinh doanh, trong quản lý điều hành của các cơ quan chính quyền… 2 Như vậy, DVVT là một loại hàng hóa công cộng vừa thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng vừa là “tài liệu” cần thiết để sản xuất kinh doanh và quản lý Nhà nước.
Chính vì vậy, DVVT phải được phổ cập. Hai là: Khi một người có thiết bị viễn thông được kết nối với mạng lưới viễn thông, thì bản thân họ có quyền và lợi ích liên lạc với các thành tố vốn đó cú trong mạng lưới. Mặt khác, các thành tố vốn đã có của mạng lưới cũng đồng thời cú thờm quyền và lợi ích liên lạc với thành tố mới trên cùng một hệ thống mạng lưới sẵn có. Trong kinh tế viễn thông hiện tượng đó được gọi là hiệu ứng ngoại sai.
Hiệu ứng ngoại sai trong liên lạc viễn thông có tác dụng thúc đẩy sự phát triển DVVT, và do đó thúc đẩy hàng hóa công cộng phát triển. Ở Việt Nam, việc phổ cập DVVT càng trở nên cần thiết khi đất nước đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Việc “đi tắt đón đầu” được coi là chính sách phù hợp để rút ngắn, thu hẹp khoảng cách, theo kịp các nước trong khu vực và thế giới. Muốn thành công trong thế giới của kỷ nguyên thông tin, của kinh tế tri thức, mọi người dân Việt Nam phải được tạo điều kiện để tiếp cận rộng rãi đến kiến thức.
Chính vì vậy, một chính sách phổ cập dịch vụ hiệu quả sẽ giữ một vai trò hết sức quan trọng. Xuất phát từ thực trạng trên, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 74/2006/QĐ-TTg ngày 07/4/2006, về: “Phờ duyệt Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2010” với mục đích đẩy nhanh việc phổ cập các DVVT và Internet đến mọi người dõn trờn cả nước, trong đó trong đó tập trung phát triển phổ cập dịch vụ cho cỏc vựng miền núi, vựng sõu, vựng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhằm rút ngắn khoảng cách về sử dụng DVVT và Internet giữa cỏc vựng, miền tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và góp phần đảm bảo an ninh, quốc phòng. Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích (DVVTCI) theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ bao gồm phổ cập DVVT và cung cấp DVVT bắt buộc bảo đảm an ninh quốc phòng. Sau đây gọi chung là chương trình phổ cập DVVTCI.
Chương trình phổ cập DVVTCI đến năm 2010 được phê duyệt với kinh phí thực hiện ước tính khoảng 5. Có thể thấy, đây là một nguồn vốn lớn xuất phát từ ngân sách Nhà nước, do đó công tác quản lý nguồn vốn đầu tư này có 3 vai trò đặc biệt quan trọng nhằm duy trì và sử dụng vốn một cách có hiệu quả, chống lãng phí, bảo toàn vốn. Nhiệm vụ quản lý vốn đầu tư cho chương trình phổ cập DVVTCI được giao cho Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam (VTF). Giai đoạn 2006 – 2010, VTF thực hiện quản lý vốn hỗ trợ cung cấp DVVTCI theo đúng tinh thần Quyết định 74/2006/QĐ-TTg.
Do đó, đến hết năm 2010, các mục tiêu cụ thể của chương trình về cơ bản đã hoàn thành, thậm chí có một số chỉ tiêu còn vượt so với kế hoạch đề ra. Nguồn vốn thực hiện chương trình luôn được bảo toàn. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế. Nguyên nhân cơ bản là mới triển khai cung cấp DVVTCI, chưa có kinh nghiệm, các chế độ chính sách quản lý vốn từng bước được bổ sung, hoàn thiện chưa đồng bộ.
Mặc khác, để thực hiện chương trình xây dựng đất nước (sửa đổi, bổ sung năm 2011) theo tinh thần Nghị quyết đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, các quyết định của Chính phủ về phổ cập DVVTCI tất yếu phải nâng cao khả năng quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập DVVTCI giai đoạn 2011 – 2015. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, với những kiến thức được đào tạo, đề tài: “Quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập dịch vụ viễn thông công ích tại Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015” được lựa chọn nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Kinh tế Đầu tư. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập DVVTCI cùng với việc đánh giá thực trạng công tác quản lý vốn chương trình phổ cập DVVTCI tại VTF giai đoạn 2006 – 2010, luận văn nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng quản lý vốn đầu tư trong giai đoạn 2011 – 2015. Yêu cầu nghiên cứu: - Quản lý vốn đầu tư phải có cơ sở lý luận và thực tiễn, được thực hiện thông qua đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, theo đúng pháp luật hiện hành.
Quản lý vốn phải gắn với công tác quản lý hành chính. - Luận văn phản ánh trung thực việc thực hiện công tác quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập DVVTCI trong thời gian qua. 4 - Các đề xuất cho giai đoạn 2011 – 2015 có căn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 1.
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập dịch vụ viễn thông công ích tại Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: - Lĩnh vực phổ cập dịch vụ viễn thông công ích. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học, trong đó chủ yếu là phương pháp phân tích tổng hợp và phương pháp logic. Sơ lược tình hình nghiên cứu: Vấn đề cung cấp DVVTCI nảy sinh đầu tiên tại các quốc gia phát triển.
Ngày nay đã trở thành vấn đề chung của văn minh nhân loại, thể hiện mong muốn cuộc sống tốt đẹp hơn. Xã hội hóa thông tin, cung cấp DVVTCI là yêu cầu đầu tiên để phát triển kinh tế tri thức và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, mà tất cả các quốc gia đều quan tâm và thực hiện. Cung cấp DVVTCI ở các nước tập trung vào việc phát triển, duy trì khả năng truy nhập của các hộ gia đình (HGĐ) vào hệ thống thông tin viễn thông công cộng. Cung cấp DVVTCI đảm bảo hầu hết các HGĐ có thể kết nối vào hệ thống thông tin viễn thông công cộng thông qua cơ sở hạ tầng mạng lưới viễn thông quốc gia.
Chính sách phổ cập DVVTCI luôn nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân. Tùy điều kiện cụ thể, mỗi nước có cơ chế quản lý vốn đầu tư phổ cập DVVTCI phù hợp. Tuy nhiên, có thể tóm tắt một số nội dung chủ yếu sau: Về dịch vụ, phạm vi, đối tượng: Ở các nước phát triển, DVVTCI bao gồm các DVVT cơ bản tại vùng khó khăn, không phân biệt đối xử trong hỗ trợ cho cá nhân, HGĐ, cơ quan, đơn vị, hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp., không phân biệt công nghệ viễn thông hữu tuyến hay vô tuyến. Các nước đang phát triển, DVVTCI bao gồm phát triển và duy trì điểm truy nhập viễn thông công cộng (TNVTCC) và thuê 5 bao viễn thông (TBVT) cho mọi người dõn cú thu nhập thấp không phân biệt vùng, miền.
Đối tượng được thụ hưởng chính sách hỗ trợ thường tập trung vào phát triển, duy trì DVVTCI tại vùng xa xôi, hẻo lánh. Về tổ chức cung cấp DVVTCI: Trong môi trường độc quyền viễn thông, Chính phủ các nước thường giao cho DNVT chủ đạo thực hiện cung cấp DVVTCI đến vùng xa xôi, hẻo lánh, kinh doanh không có lãi và cho phép thực hiện cơ chế bự chộo giữa kinh doanh và cung cấp DVVTCI để giải quyết vốn đầu tư hỗ trợ cho chương trình được Nhà nước giao; Trong môi trường cạnh tranh, Chính phủ các nước tiến hành từng bước xã hội hóa cung cấp DVVTCI như: Quy định nghĩa vụ cung cấp DVVTCI, nghĩa vụ đóng góp nguồn kinh phí (theo % cước kết nối, hoặc % doanh số DVVT có lãi) tạo vốn đầu tư hỗ trợ cung cấp DVVTCI. Về hình thức sử dụng vốn đầu tư phổ cập DVVTCI: Có hai hình thức cơ bản đó là đầu tư không hoàn lại và cho vay ưu đãi.