Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ XÃ CHÀNG SƠN, THẠCH THẤT, HÀ NỘI 1. Một số khái niệm sử dụng trong luận văn 1. Làng Khái niệm Làng gắn với hình ảnh làng xã cổ truyền ở Việt Nam với 3 đặc trưng cơ bản: ý thức cộng đồng làng (ý thức dân chủ làng xã, cộng đồng trong sản xuất bảo vệ xóm làng, xây dựng văn hoá, lối sống, đạo đức.); ý thức tự quản (thể hiện rõ nhất trong việc xây dựng hương ước); và tính đặc thù độc đáo, rất riêng của mỗi làng. Nền văn hoá Việt Nam được tạo dựng trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp.
Cuộc sống của người Việt Nam gắn bó với làng xã, quê hương. Tập tục làng, truyền thống và văn hoá làng là chất keo đặc thù gắn kết mọi thế hệ thành viên của làng. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu sử học vẫn chưa xác định rõ làng xuất hiện từ khi nào. Nhưng làng và văn hoá làng được xem là phát triển rực rỡ nhất vào thế kỷ XVI-XVIII.
Ngoài ra, làng và văn hoá làng chỉ có ở Việt Nam, ở nhiều nước làng cũng như tổ chức làng hầu như không có. Theo Từ điển tiếng Việt: Làng là một khối người quần tự ở một nơi nhất định trong nông thôn. Làng là một tế bào xã hội của người Việt, là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng. Đó là một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất [60, tr.
Như vậy có thể hiểu làng là một đơn vị hành chính, đơn vị cư trú của một bộ phân dân cư và có hương ước, điều lệ và một hình thức tổ chức xã hội quan trọng của nông thôn ở Việt Nam. Văn hóa Làng Với đơn vị là làng, văn hóa đã hiện ra như là những khuôn thước ứng xử nằm ở tầng sâu trong đời sống cộng đồng; như là hệ thống các giá trị đặc thù qui định và ngầm điều khiển các quan hệ cộng đồng; như là sự tổng hợp của những kinh nghiệm sống hình thành qua lịch sử của các cộng đồng. Mỗi con người Việt Nam, nếu có được cái may mắn là sinh ra và lớn lên ở làng, thì dù đi đâu, về đâu; dù làm nghề nay hay nghề kia; dù mang quốc tịch này hay quốc tịch khác cũng đều khó có thể thoát ly khỏi tâm thức làng, lề thói làng, giá trị làng, cái đã ăn sâu vào văn hóa cá nhân. Làng không chỉ là sản phẩm của một nền tổ chức chính trị nhà nước mà nó còn là sản phẩm văn hoá mang bản sắc người Việt.
Văn hoá làng được thể hiện thông qua các biểu trưng văn hoá mang giá trị truyền thống: cây đa, bến sông, con đê, mái đình, giếng nước đến các bản gia phả, hương ước, hội hè đình đám, những làn điệu dân ca, dân vũ. Đó còn là phong tục tập quán, cách ứng xử, tâm lý, tín ngưỡng tôn giáo, phương thức hoạt động, nghề đặc trưng v.v… Có thể xem văn hoá làng chính là những khuôn thước ứng xử nằm sâu trong mỗi con người, những nhân tố tạo nên tính cộng đồng. Và những ứng xử giữa con người với con người, con người với thiên nhiên, giữa các cộng đồng với nhau được tổng kết qua kinh nghiệm sống đã trở thành văn hoá. Văn hóa làng như một dòng nước ngầm không thể nhìn thấy nhưng lại có sức mạnh chi phối, điều khiển mỗi người trong cộng đồng làng.
Các nhà nghiên cứu văn hoá cũng như sử học Việt Nam đều khẳng định 80% văn hoá vật thể là ở làng. Đó chính là “cây đa, bến nước, sân đình”, là ngôi chùa hay những ngôi nhà cổ. Và cũng 80% văn hóa phi vật thể ra đời từ văn hoá làng. Đó là những phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng v.v… Nói sâu hơn thì văn hoá làng chính là cái gốc của văn hoá dân tộc.
Tổng thể nền văn hóa dân tộc đều mang bản sắc văn hoá vùng, 9 miền. Mà cái tạo nên văn hoá vùng miền chính là văn hoá làng, đơn vị tổ chức nhỏ nhất. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có nền văn hóa riêng biệt. Vì vậy nền văn hóa Việt Nam cũng đa dạng và vô cùng phong phú.
“Phép vua thua lệ làng” thành ngữ gắn liền với quá trình phát triển của làng Việt. Thông qua thành ngữ này, văn hóa làng luôn biểu đạt cái đặc trưng riêng, cái có ý nghĩa riêng, cái mang lại sức mạnh của làng. Lịch sử cho thấy, tất cả những gì là ngoại nhập hay ngoại sinh, nếu muốn có chỗ đứng thực sự ở làng thì phải tìm cách "chung sống" với văn hóa làng. Chính từ thực tiễn lịch sử của dân tộc Việt mà chúng ta nhận ra văn hóa làng.
Xác định sự tồn tại hiện thực của văn hóa làng là sự phát triển phù hợp với sự tiến triển của các ngành tri thức về văn hóa. Có lẽ chỉ khi đặt trong tương quan với các dạng thức văn hóa vùng và các loại văn hóa cộng đồng khác, mới thấy rõ hơn tính đặc thù và ý nghĩa của văn hóa làng. Ở Việt Nam, nghề thủ công gắn liền với văn hóa làng xã, nên khi nghiên cứu văn hóa làng nghề trước tiên phải tìm hiểu về vai trò của nghề trong quá trình hình thành văn hóa làng nghề. Nghề truyền thống chính là nhân tố quyết định đặc trưng của văn hóa làng nghề.
Văn hóa làng nghề có thể hiểu là văn hóa làng nói chung nhưng mang những nét đặc trưng trên một số phương diện được hình thành trong quá trình phát triển của nghề thủ công truyền thống. Nghiên cứu văn hóa làng nghề là đi tìm sự tương đồng và khác biệt về văn hóa giữa làng nghề với làng nói chung (tức là làng nông nghiệp). Không nên tách rời văn hóa làng với văn hóa nghề như là các thành tố riêng biệt, độc lập tương đối với nhau. Trên thực tế, chúng đan xen, tác động tương hỗ.
Văn hóa nghề cũng là văn hóa làng và văn hóa làng cũng mang màu sắc của nghề. Quản lý Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển, đều phải tuân thủ và chịu một sự quản lý nào đó. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp.
Trình độ xã hội hóa càng cao, thì yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của quản lý càng tăng lên. Thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người. Theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt, trông nom công việc.
Theo nghĩa thông thường, phổ biến nhất: Quản lý là hoạt động tác động một các có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng để điều chỉnh các quá trình phát triển xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển đối tượng theo những mục tiêu đề ra [38, tr. Trong quá trình quản lý, chủ thể tiến hành các hoạt động cơ bản như: xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh các hoạt động để thực hiện các mục tiêu đề ra. Trong đó mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý. Về khái niệm quản lý, tác giả Cao Đức Hải quan niệm: Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [30].
Thuật ngữ quản lý ở nước ta cũng thường được hiểu là sự lãnh đạo, điều hành, giám sát của con người hoặc tổ chức cấp trên đối với người hoặc tổ chức cấp dưới. 11 Tóm lại có thể hiểu quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động liên tục của chủ thể quản lý đến khách thế quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thống luật lệ, chính sách, nguyên tắc và phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xác định. Trong quá trình quản lý, chủ thể tiền hành các hoạt động cơ bản như: xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch; tổ chức thực hiện, điều chỉnh hoạt động để thực hiện các mục tiêu đề ra. Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý.
Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước, các văn bản luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con người. Điểm khác nhau cơ bản giữa quản lý nhà nước và quản lý khác (ví dụ: quản lý các doanh nghiệp nhà nước,…) là tính quyền lực nhà nước gắn liền với cưỡng chế nhà nước khi cần. Quản lý nhà nước được thực hiện bởi toàn bộ hoạt động của cơ quan trong bộ máy nhà nước. Về khái niệm quản lý nhà nước, Trần Minh Hương tác giả sách Luật hành chính viết: Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điểu chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân do các cơ quan nhà nước hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn những nhu cầu hằng ngày của nhân dân [36, tr.
Quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn và phát huy những 12 giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Quản lý nhà nước về văn hóa là sự lãnh đạo, điều hành, kiểm soát của các cơ quan văn hóa đối với các lĩnh vực được quy định, trong đó có quản lý lễ hội.