Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa tổ chức trường trung học cơ sở. Chương 2: Thực trạng quản lý văn hóa tổ chức ở các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Chương 3: Biện pháp quản lý văn hóa tổ chức trong các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VĂN HOÁ TỔ CHỨC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan về nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về văn hóa tổ chức, văn hóa nhà trường và xây dựng văn hóa tổ chức, văn hóa nhà trường - Từ đầu những năm 1930, khoa học quản lý đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ văn hóa khi đề cập về tác động của các hành vi trong tổ chức (organizational behavior) đến hoạt động và tính hiệu quả của các hoạt động trong một tổ chức (Tharp, 2009). Năm 1982, ấn phẩm “In Search of Excellence” của Peters và Wasserman đã lần đầu tiên tạo ra sự quan tâm lớn của công chúng cũng như các nhà chuyên môn với nhận định rằng một tổ chức sẽ hoạt động hiệu quả nếu tổ chức đó có “văn hóa” tốt. Kể từ đây, ngày càng có nhiều nghiên cứu về VHTC ở góc độ hàn lâm cũng như tác động của nó đến hoạt động của các loại hình tổ chức khác nhau.
- Vào những năm 60 của thế kỷ XX, lần đầu tiên, thuật ngữ “văn hóa tổ chức” (organisational culture) xuất hiện trên báo chí Mỹ và trở thành một thuật ngữ thời thượng vào những năm 80 của thế kỷ trước. Danh từ “văn hóa” đi vào kho từ vựng hàng ngày của lãnh vực quản trị được bắt đầu từ một bài báo trên tờ Tuần Kinh doanh (Business Week, số ngày 27/10/1980) dưới nhan đề Corporate Culture: the hard to change values that spell success or failure, và kể từ đó thuật ngữ này đều được nhắc đến trong tất cả các sách vở, tạp chí kinh doanh. Thực ra, nếu ta xem tổ chức là một đoàn thể con người, một đoàn thể xã hội hoặc một định chế của một tập thể con người nhất định nào đó thì văn hóa đã có mặt từ lâu trong tổ chức, nhưng VHTC được chính thức, công khai thừa nhận và thu hút được sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều người thì chỉ có mới đây, vào khoảng thập niên 1980. - Năm 1982, Purkey và Smith trong nghiên cứu của mình đã xác định VHNT như một kết cấu, một quá trình và một không gian của các giá trị, chuẩn mực có khả năng định hướng các thành viên dạy và học chất lượng.
- Nghiên cứu của Edgar Henry Shein(1996) cho rằng VHNT cũng chính là VHTC; bao gồm: những quá trình và cấu trúc hữu hình (Artifacts), hệ thống giá trị được tuyên bố (Espoused values), những quan niệm chung (basic underlying assumption). 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên cơ sở các tài liệu dẫn chứng về sự phát triển của các trường đại học tại Mỹ trong 20 năm, nghiên cứu của Rexford Brown đã khẳng định nếu muốn cải thiện chất lượng một trường học phải thay đổi cấu trúc và nền văn hóa của trường đó. Trong trường học có nhiều HS có thể thuộc những dân tộc khác nhau, vùng miền khác nhau; khác nhau về ngôn ngữ địa phương, thói quen và đặc điểm truyền thống văn hóa…, có nhiều văn hóa xung đột vì vậy xây dựng VHNT là một việc làm đặc biệt quan trọng. - Năm 2003, kết quả nghiên cứu của Dewit và nhóm tác giả cũng đã cho thấy VHNT có ảnh hưởng đến kết quả học tập và hành vi của HS.
- Trong bài “Văn hóa tổ chức trong việc tạo ra thay đổi cho nhà trường” do Phạm Thị Ly dịch, năm 2012, các tác giả: Keup, Jennifer R. - Lindholm, Jennifer A cho thấy tầm quan trọng nổi bật của VHTC đối với quá trình vận hành các hoạt động của nhà trường nhằm tạo ra sự chuyển biến cho nhà trường. - Một trong những nhà nghiên cứu giáo dục đặt nền móng cho việc nghiên cứu VHNT, người đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị cao trong lĩnh vực GD, tác giả Phạm Minh Hạc trong tác phẩm Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI đã khẳng định GD nếp sống văn hóa cho sinh viên trong học tập, sinh hoạt, văn hóa, tiêu dùng và trong ứng xử giữ vai trò quan trọng. Ở một nghiên cứu khác: Giáo dục giá trị xây dựng văn hóa học đường, tác giả đã khái quát văn hóa học đường có 3 nội dung cơ bản: Thứ nhất, phải bảo đảm về CSVC, TBGD và các phương tiện phục vụ học tập khác; đội ngũ nhà giáo chuẩn mực.
Thứ hai, nhà trường phải đảm bảo an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội,. Thứ ba, trường học là nơi người học được dạy làm người thông qua dạy chữ; là nơi GD văn hóa ứng xử, giao tiếp; giúp mọi người sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng. - Các công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Quang Huân về văn hóa nhà trường dựa trên cách tiếp cận VHTC; những hình thái và cấp độ và tầm quan trọng của VHNT với chất lượng GD. Với những công trình nghiên cứu của mình, ông là 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một trong những tác giả đã đóng góp rất nhiều cho cơ sở lý luận về VHNT.
Ông cho rằng VHTC đã làm tăng hiệu quả các hoạt động trong nhà trường, trên cơ sở đó mà dần dần tạo nên những phẩm chất đặc trưng khác biệt cho tổ chức trường học; tạo đà cho các bước phát triển tốt hơn và nâng cao uy tín của nhà trường. - Tác giả Phạm Hồng Quang trong “Môi trường giáo dục”, xuất bản năm 2006 đã đề cập những tác động của môi trường văn hóa đến quá trình đào tạo; quá trình hình thành và phát triển nhân cách. - Tác giả Vũ Dũng với các công trình nghiên cứu của mình đã khẳng định VHNT thể hiện qua môi trường sư phạm trong và mối quan hệ ứng xử của các thành viên nhà trường. Quản lý văn hóa nhà trường - Nghiên cứu của Philips, G &Wagner (2003), đã chỉ ra vai trò của các thành viên, các lực lượng của nhà trường trong việc xây dựng và đánh giá VHNT; sức mạnh của văn hóa lành mạnh, tích cực sẽ đưa nhà trường đi đến thành công; xây dựng VHNT phải bao gồm các công cụ để đánh giá văn hóa bằng các tiêu chí; nhà trường cần có một nền văn hóa tích cực, lành mạnh để GD toàn diện học sinh và chịu trách nhiệm về đánh giá chất lượng văn hóa của mình.
- Trên báo và tạp chí, có một số bài viết đáng lưu ý. Chẳng hạn, bài viết của tác giả Đỗ Thiết Thạch “Tiến trình đổi mới văn hóa nhà trường theo mô hình các yếu tố cơ sở của văn hóa tổ chức” đã phân tích các giai đoạn đổi mới văn hóa và các tiến trình đổi mới VHTC nhà trường phổ thông. Tác giả Lê Hữu Ái và Trần Quang Ánh cho rằng giáo dục văn hóa phải đặt trong bối cảnh giáo dục toàn diện, xây dựng đời sống phong phú, lành mạnh cho sinh viên và chỉ ra tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên hiện nay. - Ở góc độ mô hình trường học thân thiện, học sinh tích cực, tác giả Phạm Văn Khanh và Lê Ngọc Việt lại phân tích mô hình VHNT ở ba yếu tố sau: + Xây dựng cảnh quan sư phạm; + Xây dựng môi trường sư phạm; + Xây dựng văn hóa giao tiếp sư phạm.
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đây chưa đi sâu về công tác quản lý VHTC 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ở các trường THCS. Có thể nói rằng, cho đến nay ở nước ta rất hiếm có công trình đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng, kết quả quản lý VHTC ở các trường THCS nói chung và các trường THCS ở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa nói riêng. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Hoạt động quản lý xuất hiện từ khi con người biết lao động theo nhóm.
Thuật ngữ Quản lý đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước phát triển với nhiều khái niệm khác nhau, theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Với quan điểm tiếp cận theo hệ thống, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) tới đối tượng quản lý – trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [3]. Tác giả Lê Văn Lập cho rằng: Quản lý là ngành khoa học, nghệ thuật và một nghề nhằm huy động tất cả các nguồn lực (nhất là nguồn nhân lực), thông qua các quy trình, kỹ thuật, tác động có chủ đích, hướng tới việc đạt được mục tiêu chung của tổ chức [24]. Quan điểm tiếp cận theo các chức năng quản lý cho rằng: Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra các nguồn lực và hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao trong môi trường luôn biến động.
Xuất phát từ sự khái quát về các chức năng của quản lý, tác giả người Pháp, Henri Fayol (1841 - 1925), người đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ điển cho rằng: Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra [18]. Theo tác giả Phan Văn Kha, trong quản lý có hai nhân tố cơ bản, đó là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Các chủ thể quản lý thực hiện quản lý các đối tượng thông qua 4 chức năng cơ bản là: Lập kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo, lãnh đạo - Kiểm tra. “Quản lý là một tập hợp các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật và công nghệ đề chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống, các hoạt động để đạt được các mục đích đã định” [18].
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các công trình nghiên cứu về kế hoạch khoa học quản lý trong những năm gần đây đã đưa đến một kết luận tương đối thống nhất về bốn chức năng quản lý có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý; đó là: Lập kế hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo và Kiểm tra.