CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu về các vấn đề lý luận liên quan đến thu hút và quản lý vốn FPI Nghiên cứu về khái niệm vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, các tổ chức quốc tế như UNCTAD (1999), IMF (1993), các nhà khoa học trong nước và nước ngoài, Luật đầu tư của Việt Nam đã đưa ra các khái niệm có điểm giống và khác nhau về đầu tư gián tiếp nước ngoài. Nghiên cứu toàn diện về mối quan hệ liên quốc gia giữa FDI và FPI (Comprehensive Study of the Internationship between FDI & FPI), UNCTAD (1999) [19] đã thực hiện với các nhà quản lý về dòng vốn đầu tư trên thị trường mới nổi vào đầu năm 1997 với mục đích xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nước này.
Nghiên cứu khẳng định kỳ vọng về khả năng tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến đầu tư. Quy mô thị trường có ảnh hưởng quan trọng, đồng thời giá trị vốn hoá và thanh khoản cao sẽ tạo điều kiện và cơ hội đầu tư tốt hơn; ngoài ra quyết định đầu tư còn phụ thuộc vào biến động của tỷ giá và ổn định chính trị cũng có tác động không nhỏ. Nghiên cứu đã chỉ ra các vấn đề liên quan đến vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại các thị trường mới nổi, nguyên nhân sự xuất hiện thường xuyên của các cuộc khủng hoảng tài chính; các giải pháp đưa ra tiếp cận dòng vốn dài hạn và hạn chế các dòng vốn đầu ngắn hạn là một trong các nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng; bài học rút ra cho việc ngăn ngừa khủng hoảng là phải nắm bắt được xu hướng vận động của các dòng vốn đầu tu gián tiếp nước ngoài; theo tuỳ giai đoạn mà các quốc gia đưa ra các chính sách và thể chế quản lý FPI phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Nghiên cứu của Stulz (1999), Dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế và các thị trường chứng khoán (International Portfolio Flows and Securities Markets).
Kết quả chỉ ra: tự do hoá tại các thị trường mới nổi là một trong những nhân tố có ảnh hưởng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyết định đến đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào các thị trường nội địa và sự phát triển của các thị trường này. Tự do hoá thị trường chứng khoán của một quốc gia sẽ ảnh hưởng tới quyết định của các nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán nội địa, yếu tố làm gia tăng giá trị tài sản nội địa, giảm chi phí vốn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của Parthapratim Pal (2006), Đầu tư gián tiếp nước ngoài, phát triển kinh tế và thị trường chứng khoán: nghiên cứu trường hợp Ấn Độ (Foreign Portfolio Investment, Stock Market and Economic Development: A case Study of India), khẳng định vốn FPI thực sự mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế, nó cung cấp thêm nguồn lực cho nền kinh tế mà không làm tăng thêm gắng nặng nợ cho đất nước; đồng thời làm tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính cho nước nhận đầu tư; mặt khác FPI còn tác động tích cực tới hoạt động của thị trường vốn trong nước, tạo thêm lực đẩy cho giá chứng khoán trên thị trường nội địa, ảnh hưởng đến hệ số P/E trên thị trường. Jose Antonio Ocampo và Joseph E.
Stiglitz (2008), Phát triển và tự do hoá thị trường vốn (Capital Market Liberalization and Development, New York, Oxford University Press) [13] đưa ra quan điểm rằng, ở tầm vĩ mô, quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thì khái niệm quản lý thường được coi như hoạt động kiểm soát lợi ích và phát triển bền vững của các nước liên quan. Tác giả đưa ra kết luận: các biện pháp quản lý đổi với dòng vốn vào ra có thể có tác dụng, tuy nhiên các cơ quan quản lý phải có khả năng thực hiện ngăn ngừa được các kẽ hở của luật pháp, đặc biệt là phòng chống tham nhũng và rửa tiền; kiểm soát ngoại hối và hạn chế dòng vốn vào là giải pháp tốt nhất để chống lại sự nhạy cảm trong nước đối với dòng vốn quốc tế (điều này đã được minh chứng trong chống khủng hoảng của Trung Quốc và Ấn Độ những năm 90 của thế kỷ XX); Trong khi đó, các quy định về dự trữ bắt buộc không sinh lời và các biện pháp tương tự chỉ có sự ảnh hưởng nhất thời đến dòng vốn vào chính sách lãi suất; các biện pháp kiểm soát nên được coi là công cụ bổ trợ cho các chính sách vĩ mô khác, không nên coi nó là công cụ thay thế chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về đặc điểm tác động của FPI đối với nền kinh tế, UNCTAD (1999) [19] nghiên cứu mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, những yếu tố quyết định dòng vốn đầu tư trực tiếp và dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, những chính sách có tính chất khuyến khích dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ở các nước đang phát triển. Feldstein (2000) cho rằng vốn quốc tế giúp các chủ sở hữu giảm rủi ro bằng cách đa dạng hoá hoạt động cho vay và đầu tư, giúp chủ thể tiếp cận với cách điều hành doanh nghiệp, chuẩn hoá quy tắc kinh doanh và hoàn thiện chính sách luật pháp.
Prasend và cộng sự (2007) cho rằng FPI làm tăng tính thanh khoản của thị trường vốn trong nước và có thể gúp thị trường phát trển hiệu quả hơn, mở rộng hoạt động đầu tư. Min Zhu (2011) [14] cho rằng các nguyên tắc của việc kiểm soát dòng vốn đầu tư nước ngoài thuộc chia sẻ giữa các nền kinh tế mới nổi và các nước phát triển, các tổ chức quốc tế trong việc quản lý dòng vốn ở các nền kinh tế mới nổi. Ashoka Mody, Antu Panini Murshid (2011) [1] phân tích những lợi ích từ liên kết thị trường tài chính quốc tế, mối quan hệ giữa dòng vốn và tăng trưởng dài hạn, đánh giá lại một số lý thuyết kinh tế liên quan đến mối quan hệ giữa vốn đầu tư nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Jean-Louis Combes, Tidiane Kinda and Patrick Plane (2011) [12] đánh giá tác động của dòng vốn và chế độ tỷ giá linh hoạt đối với tỷ giá của các nước đang phát triển, chú trọng đặc biệt đến tác động của các dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với tỷ giá của các nước đang phát triển.
Nghiên cứu về các yếu tố quyết định FPI, Đặng Minh Tiến (2013) [92] cho rằng, môi trường thuận lợi để thu hút FPI bao gồm cả các yếu tố trong nước và nước ngoài, cụ thể là: trình độ phát triển của nền kinh tế, tỷ giá hối đoái, ổn định kinh tế vĩ mô, mức độ dự trữ ngoại hối, sức khoẻ ngành ngân hàng, tính thanh khoản của thị trường, lãi suất, toàn cầu hoá và khu vực hoá, tự do hoá đầu tư, các biến động trên thị trường thế giới. Lê Thị Lan và cộng sự (2015) [64] cho rằng có một số biến số vĩ mô tác động đến FPI bao gồm tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất, cung tiền. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu về quản lý FPI ở các nước tiếp nhận, có nhiều quan điểm khác nhau.Bartram and Gunter Dufey (2001) [17] cho rằng FPI mang lại nhiều rủi ro cho nước tiếp nhận, trước hết là rủi ro về tiền tệ, rủi ro về kiểm soát vốn trên thị trường chứng khoán và nhiều loại rủi ro khác. Chính vì vậy, cần phải có cơ chế kiểm soát dòng vốn này, trong đó bao gồm các biện pháp về thuế, kiểm soát ngoại hối, kiểm soát thị trường vốn, cũng như các biện pháp khác mang tính luật pháp như bảo vệ quyền của cổ đông, quy định các vấn đề về công bố thông tin, kiểm soát các giao dịch trên thị trường chứng khoán… Một số nghiên cứu trong nước cũng phân tích các chính sách quản lý dòng vốn FPI.
Kim Văn Chính (2006) [32] cho rằng quản lý vốn FPI bao gồm việc xây dựng và thực hiện các chiến lược thu hút FPI, ban hành khung khổ pháp lý và thể chế về FPI, chính sách về FPI, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động FPI và giám sát hiệu quả FPI. Ciara (2010) [5] cho rằng cần thiết phải quản lý dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài để góp phần ổn định tài chính, đạt mục tiêu tăng trưởng quốc gia. Kiểm soát dòng vốn vào có thể thực hiện bằng các biện pháp hình thành tỷ giá ổn định, hạn chế nợ quá mức, giới hạn sở hữu nước ngoài trong một số ngành, áp thuế hạn chế vốn ngắn hạn, tăng cường tính chủ động của các chính sách tiền tệ. Đặng Minh Tiến (2013) [92] cho rằng, chính sách quản lý dòng vốn FPI bao gồm: thuế, kiểm soát ngoại hối, đánh thuế ngoại tệ, ký quỹ, điều tiết thị trường vốn, thực hiện cơ chế giám sát.
Nguyễn Thanh Huyền (2015) [56] cho rằng quản lý FPI bao gồm một số nội dung chính như hoàn thiện khuôn khổ luật pháp, chính sách, hoạch định chính sách phát triển về FPI, thực hiện chức năng kiểm tra giám sát FPI. Hoàng Văn Quỳnh (2016) [78] cho rằng, các nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước đối với đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán bao gồm: xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp luật về quản lý đầu tư gián tiếp nước ngoài; xây dựng kế hoạch, quy hoạch, chính sách thu hút FPI; xây dựng các biện pháp ngăn ngừa rủi do liên quan đến FPI, quản lý thống kê số liệu về thu hút vốn FPI, xây dựng các chính sách hỗ trợ hoạt động FPI như tỷ giá, quản lý ngoại hối…; giám sát xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán. Lê Thị Thuỳ Vân, Vương Duy Lâm (2017) [102] cho rằng để đảm bảo an ninh tài chính quyền gia, các nước mới nổi thường áp dụng 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các công cụ quản lý dòng FPI sau: các công cụ tiền tệ (lãi suất, tỷ giá, tỷ lệ dự trữ bắt buộc), các công cụ thuế (thuế suất ưu đãi, đánh thuế nhiều lần, áp đặt mức thuế khấu trừ thu nhập), các biện pháp hành chính (hạn chế các khoản đầu tư của các tổ chức đầu tư không cư trú, cấm các khoản đầu tư của người không cư trú, đầu tư của người cư trú cần được ngân hàng trung ương thông qua trước, áp đặt thời hạn nắm giữ trái phiếu…).