Chương 1. Cơ sở lý luận về hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học và quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Tiểu học. Thực trạng về hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học và quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học ở trường Tiểu học Yên Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Các biện pháp quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học ở trường Tiểu học Yên Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO DẠY HỌC TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ngoài nước Thuật ngữ “Công nghệ Thông tin” xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: “Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng.
Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT).” [14] CNTT là chủ đề lớn được tổ chức văn hóa giáo dục thế giới UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI và dự đoán: sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do cảnh hưởng của CNTT. Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, một số nước trên thế giới đã ứng dụng CNTT như là một động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Cùng với hoạt động ứng dụng ngày càng rộng rãi CNTT, nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lược hoạt động ứng dụng CNTT, đặc biệt là ở các nước phát triển, mà một bộ phận quan trọng của chiến lược này là xác định cách thức đưa kiến thức tin học vào dạy trong nhà trường. Theo các tư liệu tổng hợp, đặc biệt là của UNESCO, hầu hết các nước đều đưa các kiến thức Tin học, kỹ năng cơ bản của CNTT vào giảng dạy ở trường phổ thông, thể hiện rõ hơn từ cấp Trung học cơ sở theo nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau.
Cụ thể: - Xem Tin học là một môn học riêng biệt và là môn học bắt buộc, giống như những môn học khác đối với mọi học sinh (ở nhiều bang của Hoa Kỳ, ở Úc. - Xem Tin học cũng là môn học riêng biệt nhưng theo hình thức tự chọn (ở Pháp, Đức, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc. 7 Ngày nay, hoạt động ứng dụng CNTT trong ngành GD&ĐT được các nước trên thế giới quan tâm và đã trở nên một vấn đề toàn cầu. CNTT mang đến sự đổi mới về cách dạy và cách học cho mọi cấp học.
Từ đó, các quốc gia đã nghiên cứu vai trò, lợi ích của CNTT, hoạt động ứng dụng CNTT vào công tác dạy học, đổi mới PPDH và công tác quản lý giáo dục, xem CNTT như là công cụ, PTDH mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Đặc biệt, sự ra đời của các phần mềm dạy học đã hỗ trợ đắc lực cho việc đẩy mạnh hoạt động ứng dụng CNTT vào dạy học như phần mềm Crocodile Physics, Crocodile Chemics, Geometer’s Sketchpad, Encarta,. Trong nước Ở Việt Nam, hoạt động ứng dụng CNTT trong GD&ĐT bước đầu cũng có thể xem là việc đưa kiến thức tin học vào dạy trong nhà trường. Vào đầu những năm 80, 10 ngành giáo dục nhận thức được sự cần thiết phải trang bị cho thế hệ trẻ các kiến thức phổ thông về tin học.
Đến năm 1985, những kiến thức nhập môn tin học đã được triển khai dạy thí điểm ở một số địa phương. Từ năm học 1990-1991, một số kiến thức tin học đã chính thức được đưa vào dạy trong chương trình của lớp 10 trung học phổ thông. Từ năm học 1993 - 1994, tin học đã trở thành một môn học có giáo trình riêng. Bên cạnh đó, CNTT được đưa vào nhà trường với tư cách là công cụ hỗ trợ công các quản lý như quản lý học sinh, quản lý nhân sự, quản lý thư viện, quản lý kết quả học tập, xếp thời khoá biểu, trao đổi dữ liệu tuyển sinh giữa các trường cao đẳng, đại học,.
Hướng thứ ba của hoạt động ứng dụng CNTT vào nhà trường là máy vi tính cùng với các phần mềm và Internet được sử dụng với tư cách là PTDH mới. Là ngành khoa học ra đời muộn, nhưng rõ ràng CNTT đã và đang phát triển với tốc độ rất nhanh. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020, Việt Nam “đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học, đến năm 2015, 100% giảng viên đại học, cao đẳng và đến năm 2020, 100% giáo viên giáo dục nghề nghiệp và phổ thông có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Biên soạn và sử dụng giáo trình 8 sách giáo khoa điện tử ”[7].
Chiến lược cũng đề ra nội dung bồi dưỡng về chuyên môn CNTT cho các cán bộ lãnh đạo quản lý ở các Bộ, ngành, địa phương. Định hướng phát triển CNTT giai đoạn 2020, “70% lao động trong các doanh nghiệp được đào tạo về CNTT; trên 90% giảng viên đại học và trên 70% giáo viên cao đẳng về CNTT có trình độ từ thạc sĩ trở lên, trên 30% giảng viên đại học có trình độ tiến sĩ”. [6] Trong dạy học, CNTT được sử dụng như là một công cụ lao động trí tuệ, giúp lãnh đạo nhà trường nâng cao chất lượng quản lý, giúp các thầy cô giáo nâng cao chất lượng dạy học. Học sinh có thể sử dụng máy tính như một công cụ học tập hình thành kiến thức mới.
Việc sử dụng CNTT đã mở ra hướng liên kết thông tin liên tục giữa phụ huynh và giáo viên, giúp các bậc cha mẹ dễ dàng quản lý việc học tập của con em mình. Như vậy, hoạt động ứng dụng CNTT vào giáo dục là một xu thế tất yếu của nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai lâu dài. Tuy nhiên quản lý hoạt động ứng dụng CNTT như thế nào trong các nhà trường có hiệu quả đang còn là một vấn đề phải bàn cãi. Đã có nhiều tài liệu, công trình, tác giả báo cáo viết về hoạt động ứng dụng CNTT trong GD&ĐT.
Ngoài ra, còn có các Hội thảo khoa học với chủ đề “Ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo” nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Gần đây, đã có một số đề tài khoa học nghiên cứu sử dụng PPDH tích cực có kết hợp hoạt động ứng dụng CNTT trong giáo dục Tiểu học như các đề tài của các tác giả Phó Đức Hòa, Ngô Quang Sơn cùng cộng sự…; Quản lý hoạt động ứng dụng CNTT vào dạy học ở trường Tiểu học Yên Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội chưa được ai nghiên cứu. Vì thế tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi trường Tiểu học Yên Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội nhằm đề xuất được một số biện pháp quản lý hoạt động ứng dụng CNTT vào dạy học hy vọng góp phần nâng cao hiệu quả đổi mới PPDH trong nhà trường hiện nay. Các khái niệm cơ bản 1.
Quản lý giáo dục 1.Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quân độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [4, tr. Trong quá trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người và góc độ quản lý: Theo Mai Quang Tâm: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” [18, tr.7] Quá trình quản lý nói chung là quá trình thực hiện bốn chức năng chính: Kế hoạch hóa (planning), tổ chức (organizing), lãnh đạo - chỉ đạo (leading- directing) và kiểm tra - đánh giá (controlling - evualuation). Các chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như minh hoạ ở sơ đồ dưới đây: Lập kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo 10 Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý 11 Trong chu trình quản lý, ngoài bốn chức năng trên, còn một chức năng quan trọng nữa đó là chức năng thông tin.
Qiáo dục Ngay từ khi mới xuất hiện trên trái đất, để tồn tại, con người phải lao động. Qua đó, con người nhận thức thế giới xung quanh, dần dần tích lũy được nhiều kinh nghiệm sống, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết ấy cho nhau. Đó chính là hiện tượng giáo dục. Phạm Viết Vượng cho rằng: “Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người.
Nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến” [21, tr.8] Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. Quản lý giáo dục - Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân.