CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vẫn đề Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của CNTT đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là đối với giáo dục, nhằm đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách hết sức quan trọng dé day mạnh ứng dụng CNTT vào giáo dục, xem đó là một trong những yếu tổ góp phan đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục. Nghị quyết của Chính phủ số 49/CP ngày 4/8/1993 về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90 đã nêu khái quát tình hình CNTT của nước ta, khang dinh cac quan điểm, mục tiêu va nội dung phát triển CNTT ở nước ta đến năm 2000 và để ra các biện pháp lớn đẻ thực hiện chủ trương quan trọng đó.
Nghị quyết có nêu: “Phát triển việc ứng dung CNTT trong giáo dục dao tạo, trước hết là nghiên cứu và phát triển các phần mém day học có chất lượng cao. Trong các năm tới sẽ phát triển các phần mềm dạy học về Tin học để phục vụ ngay yêu cầu pho cập giáo dục Tin học và phổ bién các kiến thức về CNTT rộng rãi trong xã hội” [8]. Chi thị số 58 của Bộ Chính trị, kí ngay 17/10/2000, về day mạnh ứng dụng va phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nêu rõ: "Day mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đảo tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và dao tạo, kết nỗi Intemet tới tắt cả các cơ sở giáo dục và dao tao" [2].
Chỉ thị số 29 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo kí ngày 30/7/2001 về việc tăng cường giảng day, dao tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo duc giai đoạn 2001-2005 néu rõ: “Dai với giáo dục và dao tạo, CNTT có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức day và học. CNTT là phương tiện dé tiến tới một xã hội học tập” [5]. Chi thị số 40/CT-TW của Ban chap hành Trung Ương Đảng ra ngảy 15/6/2004 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục đã nêu rõ: ' Tích cực áp dụng một cach sang tạo các phương pháp tiên tiền, hiện đại, ứng dụng CNTT vào hoạt động day và học” [1]. Chi thị 55/2008/CT-BGDDT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đảo tạo về tăng cường giảng day, dao tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 [6].
Nhiều dự án lớn được thực hiện đã hỗ trợ cho việc phát triển CNTT trong giáo dục ở Việt Nam như: Dự án việt Bi: pha I (1999 — 2003) với muc tiểu “Nang cao chất lượng dao tạo GV 7 tỉnh miền Bắc Việt Nam” và pha II (2004 — 2009) với mục tiêu “Nang cao chất lượng đảo tạo bồi dưỡng GV tiểu học, THCS các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam” Dé án dạy học tin học và ứng dụng CNTT - truyền thông trong trường phổ thông giai đoạn 2004 — 2006 của Bộ Giáo dục và Dao tạo. Dự án hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục (SREM) được bat dau thực hiện vào tháng 4 năm 2006 có đặt ra nhiệm vụ “Xây dựng hệ thông CNTT tích hợp cho công tác quan lý ở khối Giáo duc pho thông” Bên cạnh đó, nhiều tác giả đã thực hiện những bải viết và công trinh nghiên cứu các vẫn đề liên quan đến ứng dụng CNTT trong dạy học như: - Công trình nghiên cứu “Tông quan vẻ ứng dụng CNTT - truyền thông trong giáo dục” của tác giả Trần Khánh trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên cho cái nhìn khái quát về những thuận lợi khó khăn khi ứng dụng CNTT - truyền thông trong giáo dục ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005 [23]. - Công trình nghiền cứu “CNTT với việc dạy va học trong nha trường Việt Nam” của Lưu Lâm đã phân tích những điểm mạnh, điểm yếu Của việc sử dung CNTT trong day va học đồng thời nêu lên được việc ứng dụng CNTT trong dạy và học ở hiện tại và tương lai [29]. - Bai viết “Các xu hướng ứng dụng CNTT trong day học - Lý thuyết và vận dụng trong đào tạo GV” của tác giả Nguyễn Văn Hiển, nêu ra ba xu hướng ứng dụng CNTT vào day học hiện nay trên thé giới: (1) CNTT là phương tiện của người GV.
(2) CNTT là phương tiện dạy và học của cả thầy vả tro. - Tài liệu “Ửng dụng CNTT trong dạy học tích cực” của tác giả Phó Đức Hòa, Ngô Quang Son xem xét mối liên hệ giữa việc ứng dụng CNTT va day học tích cực, chỉ ra những đường hướng cụ thể cho GV và cách thức khai thác các thiết bị công nghệ nghe nhìn trong việc dạy học. - Tài liệu “Ứng dụng CNTT trong day học” của tác giả Lê Công Triêm đã đề cập đến các vấn đề cơ bản của việc img dụng CNTT trong day học như khái niệm, các xu hướng, những phần mềm hỗ trợ cơ bản [36]. - Công trình nghiên cứu “Ung dụng CNTT trong day học ở trường phổ thông Việt Nam” của Đảo Thái Lai (2005).
Đề tài đã trình bay cơ sở lý luận về ứng dụng CNTT trong dạy học ở pho thông. Đánh gia thực trạng ứng dụng CNTT trong day học ở một số trường tiêu học, THCS và trung học phé thông. Đề xuất định hướng ứng dụng CNTT để dạy học nói chung, đưa ra tiêu chí đánh giá một tiết học có ứng dụng CNTT trong dạy học [28]. - Công trình nghiên cứu “Sử dụng CNTT - viễn thông dé nâng cao hiệu quả dạy hoc và đổi mới phương thức dao tao” của Nguyễn Mạnh Cường, Viện Nghiên cứu giáo dục [10].
Ngoài ra, còn một số luận văn thạc sĩ đã nêu được thực trạng, biện pháp và những dé xuất, kiến nghị cho các cấp về van đề quản lý ứng dụng CNTT trong nha trường trung học phổ thông như: dé tài “Một số biện pháp chỉ đạo của Hiệu trưởng để đổi mới phương pháp dạy học bang sử dụng CNTT ở các trường trung học phổ thông vùng ven TP.HCM” của tác giả Tran Phước Đức (2003), dé tài “Thue trạng quản lý việc ứng dụng CNTT và truyền thông vào giảng dạy ở các trường trung học pho thông huyện Cai Lay tỉnh Tiền Giang” của tác giả Phan Tan Chí (2008), dé tài “Thực trang quan lý ứng dụng CNTT vào đạy các môn khoa học tự nhiên ở một số Trường trung học phô thông tại Thành phố Cần Tho” của tác giả Võ Minh Lợi (2010). Nhìn chung có khá nhiều bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong trường học phổ thông. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu vẻ thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở cấp THCS chưa được thực hiện nhiều, đặc biệt là tại địa bàn TP. Vì vậy, nghiên cứu thực trang quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS Quận 3, TP.HCM Ia việc làm cấp thiết nhằm mang lại cái nhìn chung về thực trạng và đưa ra một số biện pháp hỗ trợ cho cấp quản lý trong việc nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT vào dạy học.
Một số khái niệm 1. Quản lý Trong quá trình lao động, con người buộc phải liên kết lại với nhau, kết hợp lại thành tập thể. Điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động, phải có sự quản lý. Công việc quản lý xuất hiện tat yếu do yêu cầu của việc tổ chức lao động chung.
Quản lý ra đời là dé 10 tạo ra hiệu quả hoạt động cao hon so với việc lam riêng lẻ của các cá nhân có chung mục tiêu hoạt động. Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý, nhưng đều có chung bản chất của hoạt động quản lý, đó là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thé quản lý đến khách thể vả đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muôn và đạt được mục tiêu đặt ra. Theo Stoner (1995), “quản ly là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực san có của tô chức đề đạt những mục tiêu của tổ chức" {32, tr. Theo Griffin (1998), “quan lý là tập hợp các hoạt động (bao gồm cả lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) nhằm sử dụng tat cả các nguồn lực của tổ chức (con người, tài chính, vật chất và thông tin) dé đạt được mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả” [32, tr.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, “quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức dé vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [38, tr. Theo tác giả Trần Kiểm, “quản lý là những tác động của chủ thê quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất" {[26. Tóm lại, các khai niệm trên đây tuy khác nhau, song chúng có chung những dấu hiệu, đó là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, làm cho tổ chức vận động hiệu quả và đạt được mục tiêu của to chức. Quản lý giáo đục và quản lý nhà trường Thuật ngữ quản lý giáo dục ở đây có thé được hiểu theo 2 cấp độ vĩ mô và vi mô.
Cấp quản lý vĩ mô là quản lý một đối tượng có quy mô lớn, theo đó, cấp quản lý vi mô là những hệ thông con trong đó. Phạm vì đề tài của chúng tôi chỉ dé cập đến cắp độ quản lý giáo dục vi mô trong nhà trường phé thông, tức người Hiệu trưởng lả chủ thể quản lý cao nhất trong mọi hoạt động của nhà trường. Đối với cấp vi mô, trong phạm vi nhà trường, hoạt động quan lý bao gồm nhiều loại, như quản lý các hoạt động giáo dục: hoạt động dạy học, hoạt động văn thể, hoạt động lao động, hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục hướng nghiệp.: quản lý các đối tượng khác nhau: quản lý GV, học sinh, quản lý tài chính, quản lý cơ sở vật chất.