mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn còn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học tại các trường tiểu học thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học tại các trường tiểu học thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. 5 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC TIỂU HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Nền kinh tế thế giới hiện nay đang bước vào giai đoạn của nền kinh tế tri thức, vì vậy việc nâng cao hiệu quả chất lượng GD&ĐT sẽ là yếu tố sống còn và quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia. Trong giáo dục – đào tạo, CNTT được sử dụng vào tất cả các môn học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội và nhân văn. Hiệu quả rõ rệt là chất lựơng giáo dục tăng lên cả về mặt lý thuyết và thực hành. Vì thế, nó là chủ đề lớn được tổ chức văn hóa giáo dục thế giới UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI và dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT ”.
Như vậy, CNTT đã ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), đang tạo ra những thay đổi của một cuộc cách mạng giáo dục, vì nhờ có cuộc cách mạng này mà giáo dục đã có thể thực hiện được các tiêu chí mới: Học mọi nơi (any where) Học mọi lúc (any time) Học suốt đời (life long) Dạy cho mọi người (any one) và mọi trình độ tiếp thu khác nhau Thay đổi vai trò của người dạy, người học, đổi mới cách dạy và cách học. Chính vì vậy vấn đề nghiên cứu các biện pháp quản lý để thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục đã thực sự phát triển rộng khắp trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trên thế giới Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến việc ứng dụng CNTT như: Nước Mỹ, Australia, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore,. Để ứng dụng CNTT được như ngày nay các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục.
Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng 6 z khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng và phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Vì vậy, họ đã thu được những thành tựu rất đáng kể trên các lĩnh vực như: Điện tử, sinh học, y tế, giáo dục,. Cộng hòa Pháp: Một chính sách quốc gia đầu tiên mang tên Plan de Cancul đề xuất vào giữa những năm 60 dưới thời Tổng thống Đờ Gôn (De Gaullé) [37] Nhật Bản: Xây dựng chương trình Quốc gia có tên: “Kế hoạch một xã hội thông tin – mục tiêu quốc gia đến năm 2000” đã được công bố từ những năm 1972. [37] Tại Philippin: Kế hoạch CNTT Quốc gia (NTTP) của Philippin công bố năm 1989 xác định một chiến lược chung nhằm đưa CNTT phục vụ việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong những năm 90.
[37] Singapore: Từ năm 1981, đã thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia quy định ba nhiệm vụ là: thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ; Phối hợp GD&ĐT tin học; Phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapore. Một Ủy ban máy tính Quốc gia (NCB) được thành lập để chỉ đạo công tác đó. [37] Ở Hàn Quốc: Các hoạt động về chính phủ điện tử và ứng dụng CNTT được phân biệt: Các dự án có liên quan đến nhiều Bộ, Ngành, địa phương được xem như là dự án chính phủ điện tử được sử dụng ngân sách tập trung. Các dự án ứng dụng CNTT được tiến hành bởi từng Bộ, Ngành, địa phương sử dụng ngân sách chi thường xuyên hoặc “Quỹ thúc đẩy” CNTT do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý.
Tại Việt Nam Ở Việt Nam từ năm 1994 Bộ GD&ĐT đã chủ trương đưa máy tính vào các nhà trường với mục đích dạy học Tin học và làm phương tiện dạy học các môn học khác. Cuộc Cách mạng khoa học kĩ thuật (KHKT) tiếp tục phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức. Sự bùng nổ của Internet, của các sản phẩm phần mềm Tin học ứng dụng kéo theo sự phát triển của đời sống xã hội, làm thay đổi nhận thức của con người, đi vào mọi lĩnh vực, ngành nghề và trong đó có giáo dục và đào tạo. Được các cấp, ngành từ phía Bộ chủ quản, các cơ quan hỗ trợ phát triển, nhu cầu trao đổi thông tin, học tập, quản lý ngày một đa dạng và là một xu thế của thế kỷ XXI.
Giáo dục luôn được coi là nền tảng của sự phát triển khoa học- công nghệ, phát 7 z triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại. Đã có các công ty, các sản phẩm phần mềm dạy học ra đời phù hợp với chương trình giáo dục của ta và đặc điểm tâm sinh lí HS Việt Nam. Các phần mềm đó đã đem đến cho người dùng nhiều chọn lựa cho mình những công cụ hỗ trợ đắc lực trong công việc, trong giáo dục, học tập. Ngoài ra còn có chương trình quốc gia về CNTT (1996-2000), Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước (2001-2005) ban hành kèm theo Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ về giáo dục.
[35] Mục tiêu kế hoạch là đến năm 2015, Việt Nam có khoảng 30% số lượng sinh viên CNTT, điện tử, viễn thông sau khi tốt nghiệp ở các trường đại học có đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để tham gia thị trường lao động quốc tế; đảm bảo 100% học sinh trung cấp chuyên nghiệp và học nghề được đào tạo các kiến thức và kỹ năng ứng dụng về CNTT; 100% học sinh trung học cơ sở và 80% học sinh tiểu học được học tin học. Cũng vào giai đoạn năm 2015, 65% số giáo viên có đủ khả năng ứng dụng CNTT để hỗ trợ cho công tác giảng dạy, bồi dưỡng. Đến cuối năm 2015, 100% giảng viên đại học, cao đẳng, giáo viên dạy nghề, sinh viên. có máy tính dùng riêng.
[13] Bên cạnh đó, Kế hoạch cũng chú trọng nội dung bồi dưỡng về chuyên môn CNTT cho các cán bộ lãnh đạo quản lý ở các Bộ, ngành, địa phương. Định hướng phát triển CNTT giai đoạn năm 2020, 70% lao động trong các doanh nghiệp được đào tạo về CNTT; trên 90% giảng viên đại học và trên 70% giáo viên cao đẳng về CNTT có trình độ từ thạc sĩ trở lên, trên 30% giảng viên đại học có trình độ tiến sĩ. [13] Trong dạy học, CNTT được sử dụng như là một công cụ lao động trí tuệ, giúp lãnh đạo nhà trường nâng cao chất lượng quản lý, giúp các thầy cô giáo nâng cao chất lượng dạy học. Học sinh có thể sử dụng máy tính như một công cụ học tập nhằm nâng cao chất lượng hình thành kiến thức mới; bởi lẽ CNTT có chức năng riêng của nó, đó là: thu thập, xử lí, lưu giữ và truyền dữ liệu.
CNTT sẽ làm thay đổi không chỉ nội dung mà còn làm thay đổi phương pháp ( PP) truyền đạt của người thầy trong dạy học. Trong mỗi giờ học, giáo viên (GV) có thể minh họa bài giảng một cách sinh động thông qua hình ảnh, âm thanh. Thậm chí GV còn có thể tiến hành các thí nghiệm minh họa trực tiếp trong khi giảng. Thông qua việc nốí mạng 8 z Internet, GV và HS có thể biết thêm các tài liệu tham khảo cần thiết ngay trong khi học.
Và vì máy tính có khả năng lưu trữ thông tin nên thông qua máy tính, GV có thể làm tăng hàng trăm, hàng chục lượng thông tin trong một bài giảng. Quan trọng hơn cả, nhờ có CNTT, HS có thể tự học mọi nơi, mọi lúc…Đây chính là tiêu chí mà Đảng và Nhà nước đang hướng tới trong việc đào tạo con người mới. Như vậy, ứng dụng CNTT vào giáo dục là một xu thế mới của nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai lâu dài. Tuy nhiên quản lý hoạt động ứng dụng CNTT như thế nào trong các nhà trường cho có hiệu quả đang còn là một vấn đề phải bàn cãi.
Nhận thức được vai trò to lớn của CNTT nên đã có nhiều tài liệu, công trình, báo cáo viết về ứng dụng CNTT trong GD&ĐT, đặc biệt là đối với giáo dục phổ thông như: - Quách Tuấn Ngọc (1999), “Đổi mới phương pháp dạy học bằng CNTT - xu thế của thời đại”, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp số 8; - Lưu Lâm (2002), “Công nghệ thông tin với việc dạy và học trong nhà trường Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục số 20; - Lê Hồng Sơn (2002), “Công nghệ thông tin và truyền thông với giáo dục và đào tạo ở Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục số 32; - Đỗ Trung Tá (2004), “Ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông để đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục số 84; - Đào Thái Lai (2006), “Những yêu cầu đối với người GV về ứng dụng CNTT trong hoạt động nghề nghiệp”, Nghiên cứu Khoa học Giáo dục số 5; - Lê Công Triêm - Nguyễn Đức Vũ (2006), Ứng dụng CNTT trong dạy học, NXB Giáo dục; - Võ Ngọc Vĩnh (2006), Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tin học của hiệu trưởng trường THPT tỉnh Bình Định, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học.