Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong daỵ học Hiện nay, sự bùng nổ của CNTT đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp giáo dục của các quốc gia trên thế giới đặc biệt các nước có nền giáo dục phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản… Để có được sự UDCNTT vào trong giáo dục như ngày nay, các nước đã trải qua nhiều chương trình quốc gia về tin học hóa cũng như UDCNTT vào khoa học công nghệ và giáo dục, coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khóa để xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Chính vì vậy họ đã rất quan tâm đầu tư về CNTT, UDCNTT và quản lí việc UDCNTT.
Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-Learning” do Viện CNTT trường Đại học Cần Thơ tổ chức đầu tháng 5 năm 2006, đã đề ra hướng phát triển môi trường học tập của người học trong giai đoạn mới, phù hợp với xu thế phát triển của CNTT dựa vào UDCNTT. Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT và truyền thông “Các giải pháp công nghệ và quản lí trong UDCNTT và truyền thông vào đổi mới phương pháp dạy học”, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội phối hợp với Dự án Giáo dục đại học tổ chức từ 9-10 tháng 12 năm 2006 tại Hà Nội, đã đề cập đến các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục bằng việc ứng dụng các thành tựu của CNTT và truyền thông vào trong quá trình dạy học. Hội thảo khoa học với chuyên đề “Ứng dụng CNTT trong quản lí, dạy học và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tin học” do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức tháng 10 năm 2018 tại thành phố Sóc Trăng, đã đưa ra một số giải pháp 6 UDCNTT trong quản lí và dạy học cũng như một số biện pháp nâng cao chất lượng học sinh giỏi một Tin học. Theo tác giả Hoàng Phương Bắc trong UDCNTT và truyền thông trong quản lí, đào tạo và nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường đại học Thái Bình đã nhấn mạnh vai trò của UDCNTT đối với giáo viên: giáo viên có thể sử dụng CNTT để trình bày tài liệu theo cách thú vị và hấp dẫn hơn; hướng dẫn và giúp học sinh tìm kiếm tài liệu định tính; tận dụng thời gian tốt nhất; huấn luyện học sinh; cung cấp hướng dẫn riêng; hướng dẫn sinh viên theo hướng hợp tác cũng như học tập cộng tác; chuẩn bị tài liệu học tập cho sinh viên, thay vì dạy học trên lớp như trước; Chẩn đoán vấn đề học tập của sinh viên và giúp họ vượt qua; Giải quyết các vấn đề học tập của học sinh [3].
Theo tác giả Nguyễn Văn Long trong UDCNTT trong dạy học ngoại ngữ: Từ kinh nghiệm quốc tế đến thực tại Việt Nam đã tập trung thảo luận tình hình UDCNTT vào quá trình dạy - học ngoại ngữ nói chung và cụ thể là Tiếng Anh từ lý thuyết đến thực tiễn; từ mô hình thế giới đến thực trạng ứng dụng tại Việt Nam. Ở phần kinh nghiệm quốc tế, trên nền tảng giáo dục kĩ thuật số, tác giả phân tích các đường hướng phổ biến hiện nay thế giới đang áp dụng làm các mô hình lý thuyết cho việc đưa CNTT vào lớp học, vào quá trình giảng dạy, tiếp theo là phần phân tích các năng lực CNTT mà người giáo viên cần đạt được. Ở phần nghiên cứu thực tiễn ở Việt Nam, tác giả đi sâu phân tích nhu cầu thực tiễn và tính thiết yếu của việc ứng dụng CNTT trong bối cảnh Việt Nam, kèm theo là thực trạng ứng dụng hiện nay [19]. Tập bài giảng ứng dụng CNTT trong dạy học địa lý của Khoa Sư phạm tự nhiên, trường Đại học Lâm Đồng trong chương 4 đã trình bày nội dung UDCNTT trong dạy học địa lý rất thiết thực, cụ thể: Sử dụng PowerPoint, thiết kế bài giảng, trình chiếu bài giảng, trò chơi ô chữ, sử dụng Violet, sử dụng đa phương tiện và các phần mềm khác; tạo, xử lý video, xử lý hình ảnh, picture manager, paint; các phần mềm MindMap, eMindMaps, Inspiration.
Bài giảng này có thể áp dụng bồi dưỡng cho giáo viên có những kiến thức và kỹ năng cơ 7 bản về sử dụng CNTT để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phục vụ hoạt động giảng dạy [16]. - Đề tài UDCNTT trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam do Đào Thái Lai làm chủ nhiệm, dưới sự chủ trì của Viện Chiến lược và Chương trình GD, được thực hiện trong 2 năm (2003-2005), với sự tham gia thực hiện của nhiều cá nhân, đơn vị trong và ngoài Viện. Sau thời gian thực hiện đề tài đã thu được những kết quả nhất định và là tài liệu tham khảo quý báu. Đề tài đã đưa ra được những nguyên tắc chung và phương pháp UDCNTT trong dạy học một số môn.
Ngoài ra, còn có các Hội thảo kế hoạch với chủ đề UDCNTT trong GD và ĐT nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả GD. Những nghiên cứu về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Tác giả Hoàng Đức Trí nghiên cứu về Một số biện pháp tăng cường quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị đã đánh giá một bộ phận giáo viên chưa thường xuyên ứng dụng CNTT trong giảng dạy và trong quản lí giảng dạy một phần do năng lực tin học còn hạn chế, khả năng nắm bắt và tiếp cận phần mềm mới chưa kịp thời. Một số giáo viên chưa thực sự chủ động thiết kế giáo án ứng dụng CNTT mà còn lệ thuộc vào kho tư liệu ở trên mạng hoặc các bài giảng có sẵn của đồng nghiệp, chưa thực sự chủ động cập nhật phần mềm hỗ trợ, ứng dụng mới trong thiết kế bài giảng. Vì vậy, tác giả đã đưa ra các biện pháp như: Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên về tầm quan trọng của việc UDCNTT trong dạy học; Bồi dưỡng nâng cao trình độ về tin học nhằm đẩy mạnh UDCNTT cho giáo viên trong dạy học; Chỉ đạo việc xây dựng quy trình thiết kế và thực hiện quy trình thiết kế giáo án dạy học tích cực có UDCNTT và giáo án điện tử cho đội ngũ giáo viên, tổ chuyên môn [34].
Tác giả Phó Đức Hòa, Bùi Thị Quyên trong Một số biện pháp quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường trung học cơ sở đã đưa ra các 8 biện pháp như: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, lợi ích của việc ứng dụng CNTT; Lập kế hoạch chiến lược cho việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường THCS; Xây dựng nguồn nhân lực CNTT có chất lượng tại các trường THCS; Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kĩ thuật tin học, hiện đại hóa trang thiết bị các trường THCS [12]. Ngoài ra, còn có các công trình như: Luận văn thạc sĩ quản lí giáo dục của tác giả Phạm Trường Lưu nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp quản lí hoạt động dạy học có sử dụng đa phương tiện ở trường THCS”, đã đưa ra một số biện pháp quản lí hoạt động dạy học có sử dụng đa phương tiện nhằm nâng cao chất lượng giáo dục [20]; Luận văn thạc sĩ quản lí giáo dục của tác giả Phan Tấn Lộc nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp quản lí nhằm nâng cao hiệu quả UDCNTT ở các trường THCS, thành phố cao lãnh tỉnh Đồng Tháp”, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả UDCNTT trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục [18]… Gần đây, đã có một số đề tài khoa học nghiên cứu sử dụng phương pháp dạy học tích cực có kết hợp UDCNTT trong giáo dục Tiểu học như các đề tài của các tác giả Phó Đức Hòa, Ngô Quang Sơn cùng cộng sự… Từ các phân tích trên, tác giả nhận thấy QL UDCNTT trong hoạt động dạy học ở trường tiểu học là một vấn đề cấp thiết nhưng mới được nghiên cứu dưới góc độ hẹp. Thực tế ở Việt Nam, việc đưa công nghệ thông tin vào QL các hoạt động Nhà trường nói chung và QL dạy học nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết như: Trình độ tin học cơ bản của nhiều cán bộ quản lí, giáo viên còn hạn chế, năng lực UDCNTT của giáo viên còn yếu trong thực hiện quy trình thiết kế và sử dụng các loại giáo án điện tử. Hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề quản lí hoạt động UDCNTT trong dạy học ở các trường TH.
Vì thế tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi các trường tiểu học Thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh nhằm đề xuất được một số biện 9 pháp QL góp phần nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học nói riêng, nâng cao chất lượng GD nói chung trong các trường tiểu học hiện nay. Khái niệm hoạt động dạy học Theo tác giả Trần Thị Hương: “Hoạt động dạy học là hoạt động tương tác, phối hợp và thống nhất giữa hoạt động chủ đạo của GV và hoạt động tự giác, tích cực, chủ động của học sinh nhằm thực hiện mục tiêu dạy học. hoạt động dạy học là một hoạt động kép gồm hai HĐ: hoạt động dạy của GV và hoạt động học của học sinh. Trong đó, hoạt động dạy của GV đóng vai trò chủ đạo; hoạt động học của học sinh đóng vai trò chủ động.
Nếu thiếu một trong hai hoạt động này thì hoạt động dạy học sẽ không diễn ra.”[24] Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh khi nghiên cứu về hoạt động dạy học đã chỉ rõ: “Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình dạy học - hoạt động dạy và hoạt động học. hoạt động dạy của người GV là hoạt động lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của học sinh , giúp học sinh tìm tòi khám phá tri thức, qua đó thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân. hoạt động học của học sinh là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó người học thể hiện mình, biến đổi mình, tự làm phong phú những giá trị của mình”[39].