phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và phụ lục, nội dung chính được triển khai thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lí ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở trường THCS. Chƣơng 2: Thực trạng về công tác quản lí ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở các trường THCS thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lí ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở các trường THCS thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Ở nước ngoài Tại một số nước phát triển trên thế giới, người ta đã sớm chú trọng tới việc ứng dụng CNTT bằng việc xây dựng những chương trình quốc gia về CNTT vào mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Những thành tựu phát triển kinh tế đạt được hiện nay có phần đóng góp hết sức to lớn của các chương trình quốc gia này. Có thể thấy ở một số quốc gia điển hình như sau: - Tại Mỹ và các nước châu Âu: Các nghiên cứu quản lí ứng dụng CNTT trong giáo dục không còn là vấn đề mới mẻ.
Chính vì vậy, ứng dụng CNTT trong quản lí giáo dục đã được sự ủng hộ của Chính phủ thông qua các chính sách trợ giúp ngay từ cuối những thập niên 90 của thế kỷ XX. - Tại Anh quốc: Cấp THCS trung bình được đầu tư 198 máy tính PC và 53 máy tính xách tay/đơn vị trường. Tỷ lệ nối mạng ở THCS là 100%; CNTT được ứng dụng trong tất cả các môn học; không dạy học sinh phổ thông lập trình phần mềm - đây là công việc của các chuyên gia hoặc trường Trung học chuyên nghiệp. Máy chiếu, bảng thông minh có ở mọi phòng học.
Các trường phổ thông, THCS đều có phòng đa phương tiện (Multimedia). - Tại Nhật Bản, Hàn Quốc: Xác định mục tiêu chiến lược là triển khai xây dựng một xã hội thông tin phát triển, sử dụng CNTT để sáng tạo và xây dựng môi trường học tập mọi lúc, mọi nơi… - Tại Singapo: Năm 1981, Chính phủ Singapo thông qua đạo luật về tin học quốc gia, quy định ba nhiệm vụ: một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ; hai là, phối hợp giáo dục 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và đào tạo tin học; ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapo. Một ủy ban máy tính quốc gia được thành lập để quản lí công tác đó. - Tại Australia: Khi nghiên cứu vấn đề thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo, GS.
David Mousund đã đưa ra các luận điểm: + Lĩnh vực CNTT (Information Communication Technology) đang thay đổi nhanh chóng đến mức nó vượt quá khả năng cập nhật của đa số các nhà lãnh đạo khiến họ lo ngại. + Những tư tưởng chủ đạo cơ bản về sử dụng CNTT trong giáo dục tuy đã thay đổi nhưng thay đổi rất chậm. Trong luận điểm của mình, GS. David Mousund đã chỉ ra vấn đề là cần phải thay đổi tư tưởng của nhà quản lí.
Ông chỉ ra mâu thuẫn giữa CNTT và tư tưởng của nhà quản lí. Aderson J, 2010 chỉ ra hai hình thức và ở các cấp độ khác nhau về ứng dụng CNTT trong dạy học. * Tích hợp vào chương trình học: Tích hợp CNTT vào chương trình học là cách thức, mức độ trong đó hoạt động CNTT liên quan trực tiếp đến các mục tiêu dạy học, nội dung chương trình và các kĩ năng học tập khác trong một bài học hay một số các bài học hay một đơn vị học trình. Hình thức tích hợp có thể là toàn phần hay từng phần.
* Tích hợp sư phạm: Tích hợp sư phạm là sự lựa chọn phương tiện CNTT đặc thù và cách thức sử dụng chúng trong các lớp học, gắn với với các triết lí dạy học, định hướng vào tâm điểm của giáo viên và phong cách học tập, năng lực và động cơ của học sinh (Ham et al. Các cấp độ ứng dụng CNTT trong dạy học bao gồm: * Áp dụng bước đầu Ở cấp độ bước đầu học sinh mới chỉ bắt đầu được làm quen với máy tính. Ở cấp độ này học sinh được học các kĩ năng máy tính cơ bản và xác định các thành phần của máy tính. Giáo viên ở giai đoạn này sử dụng các phương tiện CNTT có sẵn cho các mục tiêu nghề nghiệp như sử dụng các phần mềm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com word để chuẩn bị các bài giảng, quản lí danh sách lớp, tìm nguồn thông tin và giao tiếp qua email.
Giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của CNTT đối với viêc dạy học và phát triển chuyên môn. * Áp dụng thông dụng Nhà trường ở cấp độ áp dụng thông dụng sử dụng thêm các thiết bị công nghệ bổ sung phù hợp với các chính sách về CNTT của quốc gia. Ở cấp độ này cán bộ quản lí nhà trường sử dụng CNTT để quản lí nhà trường. Giáo viên tăng cường sử dụng CNTT để giảng dạy các môn học, sử dụng các phần mềm để mô hình hóa, sử dụng trò chơi, các hoạt động mô phỏng trên các phầm mềm để giảng dạy.
Giáo viên và học sinh tương tác với nhau qua các hoạt động trên máy vi tính.Tuy nhiên ở giai đoạn này thì các hoạt động sử dụng CNTT vẫn chủ yếu do giáo viên thực hiện. Giáo viên sử dụng CNTT để phát triển chuyên môn, nâng cao năng lực và chất lượng giảng dạy của mình. * Áp dụng sâu và phổ biến (tích hợp vào chương trình - thay đổi cách dạy học truyền thống) Ở giai đoạn này, CNTT được sử dụng trong toàn bộ các môn học của toàn bộ chương trình. Các lớp học được trang bị máy vi tính có kết nối mạng trong lớp học, trong thư viện, trong các bộ phận quản lí - hành chính và các tổ chức khác của nhà trường.
CNTT được giáo viên sử dụng để quản lí việc học tập và nâng cao chất lượng học tập của học sinh. CNTT được sử dụng phù hợp với các phong cách học tập của học sinh. Bên cạnh đó giáo viên cũng dễ dàng tích hợp và kết nối các kiến thức của các môn học khác vào quá trình dạy học. * Cấp độ chuyển đổi Giáo viên tự tin và dễ dàng sử dụng các công cụ CNTT để chuyển đổi việc dạy học của mình và việc học tập của học sinh.
CNTT được sử dụng hằng ngày trong tất cả các hoạt động quản lí, dạy học trong nhà trường. Giáo viên, học sinh và cán bộ quản lí nhà trường sử dụng các phương tiện CNTT một cách sáng tạo (tạo các phương pháp dạy và học khác nhau). Việc học tập 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong nhà trường hoàn toàn chuyển sang dạy học lấy người học làm trung tâm. Giáo viên vừa là chuyên gia của môn học, vừa là chuyên gia sử dụng CNTT để giảng dạy môn học.
Tổ chức Parnership kỹ năng thế kỉ XXI cho rằng, nhà trường cần có các công cụ kĩ thuật số, các nguồn tài liệu thông tin truyền thông phong phú giúp học sinh hiểu và thể hiện bản thân mình trong thế giới mà các em sẽ là người chủ tương lai. Nhà trường phát triển các chương trình online, các chương trình elearning để người học có thể học bất kỳ lúc nào. Các nhà giáo dục sử dụng các công cụ này để chia sẻ kiến thức với các nhà giáo dục khác và liên kết nhà trường với gia đình, với các cộng đồng bên ngoài. Các nhà quản lí sử dụng các công cụ này để quản lí quá trình dạy học và các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường.
Việc dạy học, đánh giá trong nhà trường phải thực hiện theo cách thức mới. Theo nghiên cứu của Project Tomorrow, (5/2010) thì có 3 yếu tố cần thiết sau để CNTT được sử dụng có hiệu quả trong dạy học: Yếu tố cần thiết 1: Học tập dựa trên tính chất xã hội: giáo viên là người trợ giúp, giúp học sinh tìm kiếm thông tin và tạo các nhóm làm việc hợp tác. Học sinh sẽ kiến tạo việc học tập của mình dựa trên kinh nghiệm của bản thân, kết quả nghiên cứu khoa học và hợp tác sử dụng các công cụ để vượt qua các khó khăn và rào cản. Yếu tố cần thiết 2: Học tập mọi lúc, mọi nơi: học sinh có thể học bất kỳ nơi nào, bất kỳ đâu.
học sinh sử dụng các thiết bị mobi (điện thoại di động, Smart Phones và MP3) để cá nhân hóa việc học tập của các em như tìm kiếm thông tin hay các cuốn sách giáo khoa trên mạng, hợp tác với các học sinh khác để ghi chép bài học, ghi âm các bài giảng, quay video các bài trình bày… chơi các trò chơi giáo dục, nhận các nhắc nhở, làm bài tập, chia sẻ thông tin… Sử dụng CNTT đạt mục đích kép: nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh. Yếu tố cần thiết 3: Học sinh và giáo viên có nhiều các kinh nghiệm học tập sử dụng các công cụ kĩ thuật số: sự sẵn có các phương tiện CNTT và việc 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sử dụng có hiệu quả các nguồn CNTT là một phần không thể thiếu của chương trình và các hoạt động dạy học trong lớp học: dạy học cá biệt hóa, sử dụng các công cụ video, podcast, các mạng xã hội. Các nhà nghiên cứu chỉ ra 5 cản trở lớn trong quá trình sử dụng CNTT trong dạy học: Không đủ phương tiện CNTT - Các chương trình giáo dục, sách giáo khoa lạc hậu. - Thiếu sự hợp tác.
- Thiếu khả năng thích ứng với các phương tiện CNTT mới. - Thiếu hiểu biết và không hỗ trợ các hình thức học tập ngoài lớp học. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, Hiệu trưởng nhà trường là người quyết định sự thành công của việc ứng dụng CNTT trong dạy học thông qua việc thực hiện các chức năng và các phương pháp quản lí. Hiệu trưởng đưa mục tiêu ứng dụng CNTT và phát triển môi trường CNTT trong dạy học vào kế hoạch chiến lược và kế hoạch phát triển hàng năm của nhà trường; tổ chức việc thực hiện, đưa ra các chỉ dẫn và kiểm tra, giám sát kết quả đạt được.
Hiệu trưởng có các biện pháp khuyến khích giáo viên ứng dụng CNTT trong dạy học.