CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN MĨ THUẬT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu và ứng dụng ở nước ngoài Các nước trên thế giới có nền giáo dục phát triển đều chú trọng việc ứng dụng CNTT. Để ứng dụng CNTT được như ngày nay các nước đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia hội nghị, hội thảo về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và GD.
Các nước coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây đựng và phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng trường nền kinh tế để xây dụng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới như các nước như: Nước Anh, Mỹ, Trung Quốc, Australia, Canada, Nhật Bản, Hàn Quổc, Singapore, Đan Mạch. Vì vậy, họ đã thu được những thành công rất lớn trên nhiều lĩnh vực như: Điện tử, sinh học, y tế, giáo dục, công nghệ, vũ trụ. Trước sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới đang từng bước tiến lên nền kinh tế tri thức. Vì vậy, việc đào tạo ra con người có trình độ là yêu cầu tất yếu để đáp ứng cho xu thế phát triển.
Từ đó hiệu quả và chất lượng của GD&ĐT sẽ là yếu tố then chốt quyết định sự tồn tại, phát triển của mỗi quốc gia. Việc áp dụng những tiến bộ của nền kinh tế tri thức vào GD mà đặc biệt CNTT chính là một trong những giải pháp hiệu quả để góp phần nâng cao chất lượng GD. Điều này đặt ra vấn đề cho các nhà QLGD là: Làm thế nào để thúc đẩy việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học? 8 Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT trong GD còn gặp phải những trở ngại. Giáo Sư David Mousund, Trường Đại học Oregon Australia, khi nghiên cứu về thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT trong GD, đã đưa ra nhận xét “Lĩnh vực CNTT đang thay đổi nhanh chóng đến mức nó vượt quá khả năng cập nhật của đa số nhà lãnh đạo khiến họ ngần ngại”.
Điều đó có nghĩa là một trong những trở ngại lớn của việc ứng dụng CNTT là kiến thức về CNTT của các nhà QLGD thường đi sau sự phát triển. Thêm vào đó, ông cũng khẳng định: “Những tư tưởng chủ đạo cơ bản về việc ứng dụng CNTT trong GD tuy đã thay đổi nhưng thay đổi rất chậm”. Đây có thể coi là hệ quả của chính sự ngần ngại của các nhà lãnh đạo khi ứng dụng CNTT. Tuy vậy đến cuối những năm 90 việc ứng dụng CNTT đã được nghiên cứu và đưa vào lĩnh vực GD ngày càng mạnh mẽ ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu.
Ở Singapore thông qua một đạo luật về tin học hóa (năm 1981) quy định ba nhiệm vụ: Một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của chính phủ. Hai là, phối hợp GD&ĐT và tin học. Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapore. Ở Australia vào tháng 3 năm 2000, trong quyễn “Cơ cấu chiến lược cho nền kinh tế thông tin”, đã khẳng định: Tất cả mọi HS sẽ rời trường học như những người sử dụng tin cậy, sáng tạo và hiệu quả những công nghệ mới, bao gồm CNTT và viễn thông, và những HS này cũng ý thức được tác động của những ngành công nghệ này lên xã hội.
Tất cả các trường đều hướng tới việc kết hợp CNTT và viễn thông vào trong hệ thống của họ, để cải thiện khả năng học tập của HS, để đem lại nhiều cơ hội học tập hơn cho người học. Ở các nước Bắc Âu việc ứng dụng CNTT vào trong GD, dạy học được thực hiện rộng rãi trong các nhà trường nhất là các ứng dụng vào các môn học 9 khác nhau kể cả các môn học khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và các môn nghệ thuật. Ở Đan Mạch, hệ thống GD&ĐT của Đan Mạch là một hệ thống GD toàn diện chất lượng cao, hoạt động hiệu quả đem lại cơ hội GD cho mọi trẻ em, người công dân. Việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở Đan Mạch trở nên phổ biến đối với tất cả các môn học.
Đối với môn mĩ thuật, GD Đan Mạch xem môn học này là môn có nhiều ưu thế trong ứng dụng CNTT với các phần mềm ngày càng tiên tiến và các ưu thế kỹ thuật cao của máy tính, môn mĩ thuật trở nên là một môn học tạo ra nhiều cảm hứng, thoải mái cho người học qua các hình ảnh, tranh vẽ, màu sắc trên màn hình người học sẽ đến với môn mĩ thuật nhẹ nhàng hấp dẫn. Đó là phương pháp mới trong GD thẫm mĩ cho HS, nhất là với HS tiểu học. Qua phương pháp này môn mĩ thuật ngoài chức năng GD thẫm mĩ còn là con đường hướng HS qua GD thẫm mĩ hình thành tư duy sáng tạo, GD kỹ năng sống, hiểu biết về văn hóa, phát triển năng lực cá nhân. “Phương pháp Đan Mạch” trong dạy học môn mĩ thuật đã trở thành một dự án giữa Bộ GD&ĐT Việt Nam và Bộ GD Đan Mạch, từ năm học 2015-2016.
Phương pháp được áp dụng rộng rãi [2]. Như vậy có thể nói trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng CNTT trong GD cũng như QL hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và kể cả dạy học mĩ thuật nói riêng. Những nghiên cứu và ứng dụng ở trong nước Ứng dụng CNTT giúp đổi mới phương pháp dạy của GV và phương pháp học của HS. Giờ học với sự hỗ trợ của CNTT sẽ trở nên sinh động, hấp dẫn, nhiều hứng thú.
Hơn thế nữa, người học có thể học ở mọi lúc, mọi nơi. Đó chính là lý do khiến cho việc ứng dụng CNTT trong các môn học cần thiết 10 hơn, môn mĩ thuật trở thành môn học đặc biệt cần tới sự hỗ trợ của CNTT rất nhiều. Môn học mĩ thuật cũng như các môn khác không nên bó buộc HS trong giờ học chính quy khô cứng, HS cần học bất cứ khi nào và bằng bất cứ cách nào họ muốn, với các tư liệu từ các thư viện violet, từ một thế giới ảo web rộng lớn cho sự thay đổi, học hỏi và giao tiếp. Vì thế, vấn đề học mĩ thuật ở Việt Nam trong những năm qua đã nhận sự quan tâm thỏa đáng của các cấp lãnh đạo và của các nhà QL và được sự hỗ trợ của Vương quốc Đan Mạch.
Dự án Hỗ trợ GD mĩ thuật cấp Tiểu học đã triển khai thí điểm dạy môn mĩ thuật theo phương pháp của Đan Mạch (dạy mĩ thuật theo phương pháp mới) ở một số địa phương từ năm học 2011 - 2012. Đến nay, kết thúc Dự án, Bộ GD&ĐT đã tập huấn cho CBQL, GV cốt cán của 63 tỉnh/thành phố về dạy học mĩ thuật theo phương pháp mới và cung cấp tài liệu “Tài liệu dạy học mĩ thuật dành cho giáo viên tiểu học” tới tất cả các trường tiểu học trên cả nước để triển khai thí điểm đại trà từ năm học 2015 – 2016 đến nay [23]. Cùng với vai trò phát triển nền mĩ thuật hội họa trên thế giới trong thời kỳ hội nhập, vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục thẩm mĩ cũng được đặc biệt quan tâm. Theo tin thần băn bản về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành GD giai đoạn 2008 - 2012 nêu rõ “CNTT là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và đổi mới QLGD”, và “Đẩy mạnh một cách hợp lý việc triển khai và ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH ở từng cấp học, ngành học” [4].
Từ tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào GD ngày 25/01/2017, Thủ tướng Chính phủ ra QĐ số 117/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng CNTT trong QL và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT giai đoạn 2016 - 2020, định 11 hướng đến năm 2025” Theo đó, đến năm 2020, phấn đấu 100% các cơ quan QL nhà nước về GD&ĐT, các cơ sở GD&ĐT thực hiện QL hành chính xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng; 70% cuộc họp giữa các cơ quan QL nhà nước và cơ sở GD&ĐT được áp dụng hình thức trực tuyến. [8] Bộ GD&ĐT đã ban hành kế hoạch về việc thực hiện Đề án “Tăng cường ứng dụng CNTT trong QL và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”; thông tư số: 21/2017/TT-BGDĐT ngày 06/9/2017 về Quy định ứng dụng CNTT trong hoạt động bồi dưỡng, tập huấn qua mạng Internet cho GV, NV và CB QL giáo dục đề án đưa ra vấn đề đẩy mạnh ứng dụng CNTT đổi mới nội dung, phương pháp dạy - học, kiểm tra đánh giá và nghiên cứu khoa học. Cụ thể, tiếp tục xây dựng và thường xuyên cập nhật kho học liệu số dùng chung phục vụ GD mầm non, GD phổ thông và GD thường xuyên trong toàn ngành, gồm: Bài giảng điện tử, học liệu số đa phương tiện, sách giáo khoa điện tử, phần mềm mô phỏng và các học liệu khác. Tiếp tục xây dựng và thường xuyên cập nhật hệ thống ngân hàng câu hỏi trực tuyến của các môn học và phần mềm kiểm tra, đánh giá tập trung qua mạng phục vụ HS, giáo viên GD phổ thông và GD thường xuyên; ứng dụng dạy - học thông minh ở các cơ sở GD&ĐT, địa phương có đủ điều kiện trên nguyên tắc thiết thực, hiệu quả.
Ngoài ra, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cổng thư viện số (giáo trình, bài giảng, học liệu số) liên thông, chia sẻ học liệu với các cơ sở đào tạo đại học nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo trong GD đại học; triển khai hệ thống học tập trực tuyến tại các cơ sở đào tạo đại học; lựa chọn, sử dụng các bài giảng trực tuyến của nước ngoài phù hợp với điều kiện trong nước; 12 hình thành một số cơ sở đào tạo đại học trực tuyến trên cơ sở các trường hiện có bằng nguồn vốn đầu tư của nước ngoài, doanh nghiệp. Ứng dụng CNTT trong GD giúp đổi mới phương pháp dạy của GV và phương pháp học của HS. Quá trình dạy học được chuyển từ sự truyền đạt kiến thức của GV thành quá trình tự khám phá chiếm lĩnh kiến thức của HS.