CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO DẠY HỌC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ngoài nước Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng.
Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT).” [29] CNTT là chủ đề lớn được tổ chức văn hóa giáo dục thế giới UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI và dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do cảnh hưởng của CNTT”. Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, một số nước trên thế giới đã ứng dụng CNTT như là một động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Cùng với việc ứng dụng ngày càng rộng rãi CNTT, nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lược ứng dụng CNTT, đặc biệt là ở các nước phát triển, mà một bộ phận quan trọng của chiến lược này là xác định cách thức đưa kiến thức tin học vào dạy trong nhà trường. Theo các tư liệu tổng hợp, đặc biệt là của UNESCO, hầu hết các nước đều đưa các kiến thức Tin học, kỹ năng cơ bản của CNTT vào giảng dạy ở trường phổ thông, thể hiện rõ hơn từ cấp Trung học cơ sở theo nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau.
Cụ thể như: - Xem Tin học là một môn học riêng biệt và là môn học bắt buộc, giống như những môn học khác đối với mọi HS (ở nhiều bang của Hoa Kỳ, ở Úc.) - Xem Tin học cũng là môn học riêng biệt nhưng theo hình thức tự chọn (ở Pháp, Đức, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc. Ngày nay, vấn đề ứng dụng CNTT trong ngành GD&ĐT, được các nước trên thế giới quan tâm và đã trở nên một vấn đề toàn cầu. CNTT mang đến sự đổi mới về cách dạy và cách học cho mọi cấp học. Từ đó, các quốc gia đã nghiên cứu vai trò, lợi ích của CNTT, ứng dụng CNTT vào công tác dạy học, đổi mới phương pháp dạy học và công tác quản lý giáo dục, xem CNTT như là công cụ, phương tiện dạy 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.
Đặc biệt, với sự ra đời của các phần mềm dạy học đã hỗ trợ đắc lực cho việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào dạy học bộ môn như phần mềm Crocodile Physics, Crocodile Chemics, Geometer’s Sketchpad, Encarta. Trong nước Ở Việt Nam, việc ứng dụng CNTT trong GD&ĐT bước đầu cũng có thể xem là việc đưa kiến thức tin học vào dạy trong nhà trường. Vào đầu những năm 80, 10 ngành giáo dục nhận thức được sự cần thiết phải trang bị cho thế hệ trẻ các kiến thức phổ thông về tin học. Đến năm 1985, những kiến thức nhập môn tin học đã được triển khai dạy thí điểm ở một số địa phương.
Từ năm học 1990 - 1991, một số kiến thức tin học đã chính thức được đưa vào dạy trong chương trình của lớp 10 THPT. Từ năm học 1993 - 1994, tin học đã trở thành một môn học có giáo trình riêng. Bên cạnh đó, CNTT được đưa vào nhà trường với tư cách là công cụ hỗ trợ công các quản lý như quản lý HS, quản lý nhân sự, quản lý thư viện, quản lý kết quả học tập, xếp thời khoá biểu, trao đổi dữ liệu tuyển sinh giữa các trường cao đẳng, đại học. Hướng thứ ba của việc ứng dụng CNTT vào nhà trường là máy vi tính cùng với các phần mềm và Internet được sử dụng với tư cách là phương tiện dạy học mới.
Là ngành khoa học ra đời muộn, nhưng rõ ràng CNTT đã và đang phát triển với tốc độ rất nhanh. Mục tiêu kế hoạch đến năm 2015, Việt Nam có khoảng 30% số lượng SV CNTT, điện tử, viễn thông sau khi tốt nghiệp ở các trường đại học có đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để tham gia thị trường lao động quốc tế; đảm bảo 100% HS trung cấp chuyên nghiệp và học nghề được đào tạo các kiến thức và kỹ năng ứng dụng về CNTT; 100% HS THCS và 80% HS tiểu học được học tin học. Cũng vào giai đoạn 2015, 65% số GV có đủ khả năng ứng dụng CNTT để hỗ trợ cho công tác giảng dạy, bồi dưỡng. Đến cuối năm 2015, 100% giảng viên đại học, cao đẳng, GV dạy nghề, SV … có máy tính dùng riêng [14].
Bên cạnh đó kế hoạch cũng chú trọng nội dung bồi dưỡng về chuyên môn CNTT cho các cán bộ lãnh đạo quản lý ở các Bộ, ngành, địa phương. Định hướng phát triển CNTT giai đoạn 2020,70% lao động trong các doanh nghiệp được đào tạo 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về CNTT; trên 90% giảng viên đại học và trên 70% GV cao đẳng về CNTT có trình độ từ thạc sĩ trở lên, trên 30% giảng viên đại học có trình độ tiến sĩ. Trong dạy học, CNTT được sử dụng như là một công cụ lao động trí tuệ, giúp lãnh đạo nhà trường nâng cao chất lượng quản lý, giúp các thầy cô giáo nâng cao chất lượng dạy học. HS có thể sử dụng máy tính như một công cụ học tập hình thành kiến thức mới.
Việc sử dụng CNTT đã mở ra hướng liên kết thông tin liên tục giữa phụ huynh và GV, giúp các bậc cha mẹ quản lý được thời khóa biểu và tình hình kiến thức của con em mình. Như vậy, ứng dụng CNTT vào giáo dục là một xu thế mới của nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai lâu dài. Tuy nhiên quản lý hoạt động ứng dụng CNTT như thế nào trong các nhà trường cho có hiệu quả đang còn là một vấn đề phải bàn cãi. Nhận thức được vai trò to lớn của CNTT nên đã có nhiều tài liệu, công trình, báo cáo viết về ứng dụng CNTT trong GD&ĐT, đặc biệt là đối với giáo dục phổ thông như: - Quách Tuấn Ngọc (1999), “Đổi mới phương pháp dạy học bằng CNTT - xu thế của thời đại”, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp số 8; - Lưu Lâm (2002), “Công nghệ thông tin với việc dạy và học trong nhà trường Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục số 20; - Lê Hồng Sơn (2002), “Công nghệ thông tin và truyền thông với giáo dục và đào tạo ở Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục số 32; - Đỗ Trung Tá (2004), “Ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông để đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục số 84; - Đào Thái Lai (2006), “Những yêu cầu đối với người GV về ứng dụng CNTT trong hoạt động nghề nghiệp”, Nghiên cứu Khoa học Giáo dục số 5; - Lê Công Triêm - Nguyễn Đức Vũ (2006), Ứng dụng CNTT trong dạy học, NXB Giáo dục; 11 - Võ Ngọc Vĩnh (2006), Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tin học của hiệu trưởng trường THPT tỉnh Bình Định, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học.
- Trần Khánh (2007), “Tổng quan về ứng dụng CNTT và truyền thông trong giáo dục”, Tạp chí Giáo dục số 161; 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Ngô Quang Sơn (2007), “Ứng dụng CNTT và truyền thông trong quản lý trường THCS- Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Giáo dục số 174; - Nguyễn Văn Hiền (2007), “Một số kỹ năng CNTT cơ bản cần trang bị cho GV Sinh học ở trường THPT hiện nay”, Tạp chí Giáo dục số 179; - Nguyễn Mạnh Hưởng (2008), “CNTT và truyền thông với vấn đề đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông”, Tạp chí Giáo dục số 185; - Đề tài “Ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” do Đào Thái Lai làm chủ nhiệm, dưới sự chủ trì của Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, được thực hiện trong 2 năm (2003-2005), với sự tham gia thực hiện của nhiều cá nhân, đơn vị trong và ngoài Viện. Sau thời gian thực hiện đề tài đã thu được những kết quả nhất định và là tài liệu tham khảo quý báu. Đề tài đã đưa ra được những nguyên tắc chung và phương pháp ứng dụng CNTT trong dạy học một số môn. Ngoài ra, còn có các Hội thảo khoa học với chủ đề “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo” nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.
Gần đây, đã có một số đề tài khoa học nghiên cứu sử dụng phương pháp dạy học tích cực có kết hợp ứng dụng CNTT trong giáo dục Tiểu học như các đề tài của các tác giả Phó Đức Hòa, Ngô Quang Sơn cùng cộng sự…; Tác giả Lê Thế Anh với đề tài: “Biện pháp tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý trường tiểu học ở huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa”. Quản lý ứng dụng CNTT vào dạy học ở địa bàn các trường tiểu học huyện Đông Anh, TP Hà Nội chưa được ai nghiên cứu. Vì thế tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi các trường tiểu học huyện Đông Anh, TP Hà Nội nhằm hy vọng đề xuất được một số biện pháp quản lý góp phần nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học trong các trường tiểu học ở địa phương hiện nay. Khái niệm Theo Harold Koontz: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học. 33] Tác giả Đặng Thành Hưng đưa ra khái niệm: Quản lý là một dạng lao động đặc biệt nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển, phối hợp lao động của người khác hoặc của nhiều người khác trong cùng một tổ chức hoặc cùng một công việc nhằm thay đổi hành vi và ý thức của họ, định hướng và tăng hiệu quả lao động của họ, để đạt được mục tiêu của tổ chức hoặc lợi ích của công việc cùng sự thỏa mãn của những người tham gia.