Chương 1: Cơ sở lý luận Quản lý hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở các trường tiểu học huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi. 5 C ƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ OẠT ĐỘNG TRẢI NG IỆM Ở C C TRƯỜNG TIỂU ỌC 1.
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1. Ở nước ngoài Từ cuối thế kỷ XIX, xuất hiện mô hình dạy học trải nghiệm đầu tiên trên thế giới là mô hình về nghiên cứu ứng dụng vào đào tạo thực nghiệm của nhà tâm lí học Kurt LeWin. Lewin nhấn mạnh tới sự kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và thực hành. Ông thấy rằng, việc học có thể đạt hiệu quả tối đa khi có mối quan hệ chặt chẽ giữa kinh nghiệm cá nhân và việc phân tích giải quyết nhiệm vụ học tập.
Nhắc đến học thuyết giáo dục trải nghiệm, phải nhắc đến quan điểm “học qua làm, học bắt đầu từ làm”. Của John Deway. Với triết lí giáo dục đề cao vai trò kinh nghiệm, từ giữa thế kỉ XX, ông đã đưa ra được quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục. Ông cũng chỉ ra rằng, kinh nghiệm giúp năng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học, kiến thức học với thực tiễn cuộc sống, vì thế cần đưa các loại bài tập như nghề làm vườn, dệt, mộc… vào nhà trường.
David Kolb nghiên cứu chu trình học từ trải nghiệm. Theo ông, các bước của học tập trải nghiệm bao gồm kinh nghiệm cụ thể, quan sát, phản chiếu, khái niệm hóa và thử nghiệm tích cực. Nhà sư phạm người Nga T.Smiêc-nô-va cũng tổng kết lại rằng: “Ngoại khóa để thu hút học sinh, làm cho họ hứng thú và đi đến kết luận rằng công tác ngoại khóa cần được suy nghĩ kỹ và tiến hành ở tất cả các lớp trong hệ thống giáo dục mà không được mang tính chất thất thường”. Từ thực tiễn trải nghiệm, nhà sư phạm A.Côp-chi-ê-va kết luận: “Công việc ngoại khóa nếu được tiến hành có hệ thống không những nâng cao trình độ chung về sự tiến bộ của HS mà còn cả về trình độ ngôn ngữ, kiến thức của các em”.
Cai-Rôp - Nhà GD học người Nga đã viết: “Khi đặt kế hoạch công tác giảng dạy chung cho cả năm học mới, người hiệu trưởng phải xét kết quả HĐNGLL năm học trước và nhằm mục đích nâng cao thành tích của HS, củng cố kỉ luật và nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường, mà quyết định nhiệm vụ HĐNGLL cho năm học sắp tới. Trong kế hoạch công tác của nhà trường có dành một mục riêng cho HĐNGLL. Mục đích đó gồm mấy yếu tố sau: Xây dựng điều kiện và cơ sở vật chất cho HĐNGLL năm tới, các HĐNGLL của nhà trường và của lớp, phân phối lực lượng và định kì cho kế hoạch. Về kế hoạch phải tỉ mỉ, cụ thể về cách tổ chức các HĐ quần chúng đặc biệt, hoặc các ngày nghỉ… thì người phụ trách tổ chức và người chỉ đạo sẽ quyết định riêng 6 và bổ sung cho kế hoạch toàn năm.
Những người phụ trách tổ chức và người chỉ đạo ấy chính là những người được uỷ nhiệm thi hành những điều khoản bổ sung kia”. [7] Tại Pháp, khi 6 tuổi, học sinh sẽ vào bậc học đầu tiên. Chính ở năm đầu tiên này, các em sẽ học những năng khiếu cơ bản về đọc và viết. Cũng giống như đa phần các hệ thống giáo dục khác, các học sinh học tiểu học chỉ có một thầy cô đứng lớp, hay chỉ là hai.
GV này sẽ dạy toàn bộ chương trình cấp lớp cho các em như Pháp Văn, Toán, Khoa học và Khoa học nhân bản… Ở lứa tuổi này, nhà trường giới thiệu cho trẻ em nhiều hoạt động nhằm phát triển khả năng nhận biết thế giới xung quanh, khả năng tư duy và các kĩ năng liên quan đến năng lực học tập độc lập của trẻ. Tại Singapore, Hội đồng nghệ thuật quốc gia này có chương trình giáo dục nghệ thuật, cung cấp, tài trợ cho nhà trường phổ thông toàn bộ chương trình của các nhóm nghệ thuật, những kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật, … Tại Đức, từ cấp tiểu học đã nhấn mạnh đến vị trí của các kĩ năng cá biệt, trong đó có phát triển kĩ năng sáng tạo cho trẻ; phát triển khả năng học độc lập; tư duy phê phán và học từ kinh nghiệm của chính mình. Tại Hàn Quốc, mục tiêu HĐTN hướng đến con người được giáo dục, có sức khỏe, độc lập và sáng tạo. Cấp TH và cấp THCS nhấn mạnh cảm xúc và ý tưởng sáng tạo, còn ở cấp THPT phát triển công dân toàn cầu có suy nghĩ sáng tạo.
Hiện nay, HĐTN đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy cho học sinh trong các trường phổ thông dưới nhiều hình thức khác nhau. Kinh nghiệm HĐTN trong nhà trường ở các nước cho thấy nó thúc đẩy mối quan hệ tích cực hơn giữa học sinh và giáo viên, đem đến hứng thú học tập cho học sinh do các em cảm thấy được tham gia vào những vấn đề liên quan đến cuộc sống của bản thân, cũng như đem đến bầu không khí năng động hơn trong lớp học cũng như trong nhà trường. Ở trong nước Ở Việt Nam, từ thời kì đầu của nền giáo duc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.” Tác giả Hà Thế Ngữ trong cuốn “Giáo dục học một số vấn đề về lý luận và thực tiễn” [21] cũng nhấn mạnh vai trò và tác dụng của hình thức hoạt động ngoại khóa, coi đây là một trong những hình thức dạy học có khả năng tạo hứng thú cho học sinh, giúp các em mở rộng, nâng cao, khắc sâu kiến thức được tốt hơn. Tài liệu tập huấn “Hướng dẫn thực hiện Chương trình Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp” của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội giúp nắm được những vấn đề cốt lõi của Chương trình HĐTN và HĐTN, hướng nghiệp trong mối quan hệ với chương trình GDPT tổng thể trên các phương diện: đặc điểm, quan 7 điểm xây dựng, mục tiêu về phẩm chất và năng lực, nội dung và yêu cầu cần đạt, tính mở và linh hoạt trong Chương trình.[6] Theo Viện nghiên cứu Sư phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (công bố tháng 7 năm 2017), và Chương trình giáo dục phổ thông các môn học (Ban hành theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018), ngoài nội dung các môn học cơ bản, các lớp ở tiểu học còn có nội dung “Hoạt động thực hành và trải nghiệm”.
Việc tổ chức HĐTN ở tiểu học đang gặp khó khăn, lúng túng từ lý luận đến thực tiễn nên là vấn đề đang được nhiều giáo sinh, giáo viên tiểu học và giảng viên quan tâm từ đó đề xuất cách thức tổ chức hoạt động trải nghiệm ở tiểu học. [3] Nhìn chung các tác giả trên thế giới và trong nước đều đề cao vai trò và tác dụng của HĐTN trong quá trình giáo dục học sinh, xem HĐTN là một trong những hình thức tổ chức dạy học quan trọng, không thể thiếu trong quá trình dạy học và giáo dục học sinh. Tuy nhiên thực tế cho thấy, những nghiên cứu HĐTN ở Việt Nam còn rất hạn chế. Do đó, HĐTN vẫn còn là một lĩnh vực đầy tiềm năng cần được khai thác và cần được sự quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn nữa.
Vì thế việc xây dựng cơ sở lí luận cho quản lý HĐTN bậc Tiểu học là cần thiết giúp nhà quản lý có cơ sở điều hành công tác chuyên môn của nhà trường nói chung, HĐTN nói riêng đạt kết quả tốt hơn. Các khái niệm chính 1. Khái niệm quản lý Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý khi là động từ mang ý nghĩa: “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định. Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”.
Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển”. Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững. Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho hoạt động của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng. Sự quản lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau.
[15] Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm quản lý: Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã từng nói 8 rằng: “Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo”. Tiếng Việt cũng có từ “quản lý” và “lãnh đạo” riêng rẽ giống như “manager” và “leader” trong tiếng Anh. Theo Haror Koontz, quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định. [14] Theo Mariparker Follit (1868 – 1933), nhà khoa học chính trị, nhà triết học Mỹ thì: “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”.
Tư tưởng và quan điểm “quản lý” đã có từ cách đây hơn 2500 năm nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới xuất hiện. Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học”. Theo ông thì người quản lý phải là nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc. Tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”.