Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế TNCN tại Thái Nguyên đến 2015 - Luận văn Thạc sĩ

Tổng hợp giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN tại Thái Nguyên, phân tích thực trạng và đề xuất các kiến nghị nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

144
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh công tác quản lý thuế TNCN tại tỉnh Thái Nguyên

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội và tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước. Tại Thái Nguyên, một tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng, công tác quản lý thuế TNCN Thái Nguyên giữ vai trò chiến lược. Việc hoàn thiện công tác này không chỉ giúp tăng thu cho ngân sách địa phương mà còn góp phần tạo môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng. Giai đoạn 2009-2012, Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai Luật Quản lý thuế và Luật thuế TNCN, từng bước hiện đại hóa quy trình, nâng cao hiệu quả quản lý. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế thay đổi liên tục, sự gia tăng của các loại hình thu nhập mới và ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận người nộp thuế (NNT) còn hạn chế đã đặt ra nhiều thách thức. Luận văn của tác giả Đỗ Văn Cường (2013) đã cung cấp một cái nhìn sâu sắc về thực trạng và các nút thắt cần tháo gỡ. Bài viết này sẽ phân tích các vấn đề cốt lõi, từ đó đề xuất những giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN tại địa phương, hướng tới mục tiêu xây dựng một hệ thống quản lý thuế chuyên nghiệp, hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế.

1.1. Vai trò chiến lược của thuế TNCN đối với kinh tế Thái Nguyên

Thuế TNCN đóng góp một phần ngày càng quan trọng vào tổng thu ngân sách nhà nước tại Thái Nguyên. Đây là nguồn thu trực tiếp, phản ánh sự phát triển kinh tế và mức sống của người dân. Một hệ thống quản lý thuế TNCN hiệu quả giúp nhà nước huy động nguồn lực tài chính để tái đầu tư vào cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội và các chương trình phát triển kinh tế. Hơn nữa, thuế TNCN còn là công cụ điều tiết thu nhập, góp phần giảm chênh lệch giàu nghèo. Thông qua biểu thuế lũy tiến từng phần, người có thu nhập cao hơn sẽ đóng góp nhiều hơn, qua đó thực hiện công bằng xã hội. Tại Thái Nguyên, với sự phát triển của các khu công nghiệp và sự gia tăng của các chuyên gia, lao động có thu nhập cao, vai trò này càng trở nên rõ nét.

1.2. Cơ sở pháp lý và quy trình quản lý thuế TNCN hiện hành

Công tác quản lý thuế TNCN Thái Nguyên được thực hiện dựa trên hệ thống văn bản pháp luật của nhà nước, chủ yếu là Luật thuế TNCN và Luật Quản lý thuế. Quy trình quản lý bao gồm nhiều khâu then chốt: đăng ký và cấp mã số thuế, quản lý kê khai và nộp thuế, quyết toán thuế, thanh tra và kiểm tra. Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, từ việc tuyên truyền chính sách đến việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để giám sát tuân thủ. Các quy định về giảm trừ gia cảnh, các khoản thu nhập chịu thuế và miễn thuế được áp dụng thống nhất. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn địa phương vẫn còn một số vướng mắc, đòi hỏi sự linh hoạt và các giải pháp phù hợp để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.

II. 03 thách thức lớn trong quản lý thuế TNCN tại Thái Nguyên

Mặc dù đã đạt được những kết quả ban đầu, công tác quản lý thuế TNCN Thái Nguyên vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Những tồn tại này không chỉ gây thất thu thuế cho ngân sách mà còn tạo ra sự thiếu công bằng giữa các đối tượng nộp thuế. Theo nghiên cứu của Đỗ Văn Cường, giai đoạn 2009-2012 đã bộc lộ rõ ba nhóm vấn đề chính. Thứ nhất, hệ thống chính sách và văn bản pháp luật tuy đã được ban hành nhưng vẫn còn phức tạp, chưa đồng bộ, gây khó khăn cho cả cơ quan thuế và người nộp thuế trong quá trình thực hiện. Thứ hai, việc quản lý nguồn thu nhập của dân cư, đặc biệt là thu nhập từ kinh doanh tự do, chuyển nhượng vốn, và các dịch vụ phi chính thức, còn rất nhiều hạn chế. Việc thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt khiến cơ quan thuế khó kiểm soát. Thứ ba, năng lực của bộ máy quản lý, đặc biệt là đội ngũ thanh tra, kiểm tra, còn mỏng so với yêu cầu thực tế. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý dù đã được triển khai nhưng chưa thực sự phát huy hết hiệu quả. Việc giải quyết triệt để các thách thức này là yêu cầu cấp thiết để hoàn thiện công tác quản lý thuế.

2.1. Hạn chế trong hệ thống chính sách và nhận thức người nộp thuế

Một trong những rào cản lớn nhất là sự phức tạp của chính sách thuế. Một số quy định còn chồng chéo, khó hiểu, đặc biệt là các quy định về giảm trừ gia cảnh và xác định thu nhập chịu thuế từ các nguồn không thường xuyên. Điều này dẫn đến việc kê khai thuế sai sót hoặc cố tình gian lận. Bên cạnh đó, nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận người nộp thuế (NNT) còn rất hạn chế. Nhiều cá nhân có thu nhập cao nhưng chưa tự giác đăng ký, kê khai và nộp thuế đầy đủ. Công tác tuyên truyền, hỗ trợ của cơ quan thuế dù đã được thực hiện nhưng chưa thực sự sâu rộng và hiệu quả, chưa thay đổi được thói quen và tâm lý của nhiều người dân.

2.2. Bất cập trong quản lý thu nhập và kiểm soát nguồn thu

Việc quản lý thu nhập dân cư là khâu yếu nhất trong công tác quản lý thuế TNCN. Các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công tại các cơ quan, doanh nghiệp lớn được quản lý tương đối tốt thông qua khấu trừ tại nguồn. Tuy nhiên, các nguồn thu nhập từ kinh doanh cá thể, hành nghề tự do (bác sĩ, luật sư, nghệ sĩ), chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng vốn... rất khó kiểm soát. Phương thức thanh toán bằng tiền mặt phổ biến gây khó khăn cho việc xác minh doanh thu và thu nhập thực tế. Thực trạng này tạo ra kẽ hở lớn gây thất thu thuế và tạo ra sự bất bình đẳng khi người làm công ăn lương phải nộp thuế đầy đủ, trong khi nhiều đối tượng khác lại dễ dàng né tránh nghĩa vụ.

2.3. Năng lực hạn chế của bộ máy thanh tra kiểm tra thuế

Lực lượng thanh tra, kiểm tra của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên còn mỏng, chưa đáp ứng được quy mô đối tượng cần quản lý. Theo số liệu giai đoạn 2010-2012, số lượng đơn vị được thanh tra, kiểm tra chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số đối tượng chịu thuế. Điều này làm giảm tính răn đe, khiến các hành vi gian lận, trốn thuế có nguy cơ gia tăng. Hơn nữa, trình độ chuyên môn, kỹ năng thanh tra trong các lĩnh vực mới như thương mại điện tử, đầu tư tài chính của một bộ phận cán bộ thuế còn hạn chế. Việc thiếu các công cụ công nghệ thông tin hỗ trợ hiệu quả cũng làm giảm năng suất và chất lượng của công tác thanh tra, kiểm tra.

III. Giải pháp cải cách chính sách và đẩy mạnh tuyên truyền thuế

Để giải quyết các tồn tại, việc hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN cần bắt đầu từ gốc rễ là chính sách và nhận thức. Một hệ thống chính sách đơn giản, minh bạch và một cộng đồng người nộp thuế am hiểu, tự giác là nền tảng cho một hệ thống quản lý thuế thành công. Nhóm giải pháp này tập trung vào hai trụ cột chính. Một là, tiếp tục kiến nghị, sửa đổi các quy định pháp luật về thuế TNCN theo hướng đơn giản hóa, dễ hiểu, dễ thực hiện, phù hợp hơn với thực tiễn kinh tế - xã hội tại Thái Nguyên. Hai là, đổi mới và đẩy mạnh toàn diện công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế. Mục tiêu là biến việc thực hiện nghĩa vụ thuế từ một gánh nặng bắt buộc thành một trách nhiệm tự nguyện của công dân. Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên cần đóng vai trò chủ động trong việc phối hợp với các cơ quan truyền thông, các hiệp hội doanh nghiệp và chính quyền địa phương để đưa chính sách thuế đến gần hơn với người dân, xây dựng mối quan hệ đối tác tin cậy giữa cơ quan thuế và NNT.

3.1. Kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế TNCN

Cần nghiên cứu và đề xuất với Bộ Tài Chính, Tổng Cục Thuế các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNCN. Cụ thể, cần đơn giản hóa thủ tục quyết toán thuế, quy định rõ ràng hơn về các khoản chi phí được trừ đối với cá nhân kinh doanh. Mức giảm trừ gia cảnh cần được xem xét điều chỉnh định kỳ để phù hợp với biến động của chỉ số giá tiêu dùng và mức sống tối thiểu. Bên cạnh đó, cần có các quy định pháp lý chặt chẽ hơn để quản lý thu nhập từ các nền tảng kinh tế số, thương mại điện tử - một nguồn thu tiềm năng nhưng đang bị bỏ ngỏ. Việc xây dựng một hành lang pháp lý đồng bộ và thực tiễn sẽ là cơ sở để quản lý thuế TNCN Thái Nguyên hiệu quả và bền vững.

3.2. Đổi mới phương pháp tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế

Công tác tuyên truyền cần được thực hiện thường xuyên, đa dạng về hình thức và phù hợp với từng nhóm đối tượng. Thay vì các văn bản khô khan, cần sử dụng các phương tiện trực quan như infographic, video, hội thảo trực tuyến. Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên nên xây dựng các kênh hỗ trợ trực tuyến (chatbot, hotline, Zalo Official) để giải đáp thắc mắc cho người nộp thuế một cách nhanh chóng. Tổ chức các lớp tập huấn, đối thoại định kỳ với doanh nghiệp và các hộ kinh doanh để lắng nghe vướng mắc và hướng dẫn kịp thời. Việc nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ không chỉ giúp NNT tuân thủ tốt hơn mà còn xây dựng hình ảnh cơ quan thuế thân thiện, chuyên nghiệp.

IV. Phương pháp hiện đại hóa công tác quản lý thuế TNCN

Bên cạnh chính sách và tuyên truyền, việc nâng cao năng lực quản lý nội tại của cơ quan thuế là yếu tố quyết định. Nhóm giải pháp này tập trung vào việc hiện đại hóa quy trình nghiệp vụ và phát triển nguồn nhân lực, tạo ra một bộ máy quản lý tinh gọn, mạnh mẽ và hiệu quả. Trọng tâm là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi khâu của công tác quản lý thuế, từ kê khai thuế điện tử, nộp thuế trực tuyến đến phân tích dữ liệu rủi ro để phục vụ thanh tra, kiểm tra. Đồng thời, cần có một chiến lược bài bản để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thuế, đảm bảo họ không chỉ vững về chuyên môn nghiệp vụ mà còn có phẩm chất đạo đức tốt và kỹ năng giao tiếp chuyên nghiệp. Việc kết hợp giữa công nghệ hiện đại và con người chất lượng cao sẽ tạo ra bước đột phá trong quản lý thuế TNCN Thái Nguyên, giảm thiểu chi phí tuân thủ cho người nộp thuế và chi phí quản lý cho cơ quan thuế.

4.1. Tăng cường ứng dụng công nghệ và cải cách hành chính thuế

Cần tiếp tục hoàn thiện và mở rộng hệ thống khai thuế, nộp thuế và hoàn thuế điện tử. Xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về người nộp thuế, kết nối thông tin với các cơ quan liên quan như Bảo hiểm xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, ngân hàng, công an. Việc này giúp xác minh thu nhập và quản lý đối tượng một cách toàn diện. Áp dụng các phần mềm phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để nhận diện các dấu hiệu rủi ro về thuế, từ đó khoanh vùng đối tượng cần thanh tra, kiểm tra một cách chính xác, nâng cao hiệu quả mà không cần tăng nhân lực. Đẩy mạnh cải cách hành chính bằng cách đơn giản hóa, tự động hóa các thủ tục, giảm thời gian và chi phí cho người dân và doanh nghiệp.

4.2. Nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ cán bộ thuế

Con người là yếu tố then chốt. Cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ thuế. Nội dung đào tạo phải cập nhật các kiến thức mới về chính sách, pháp luật, kỹ năng phân tích tài chính, và đặc biệt là các nghiệp vụ thanh tra trong môi trường kinh tế số. Tổ chức các khóa học về kỹ năng giao tiếp, ứng xử để nâng cao chất lượng phục vụ người nộp thuế. Song song với đào tạo, cần tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong nội bộ ngành. Xây dựng một đội ngũ cán bộ thuế vừa "hồng" vừa "chuyên" là đảm bảo vững chắc nhất cho sự thành công của công tác quản lý thuế TNCN.

4.3. Phối hợp liên ngành trong quản lý và chống thất thu thuế

Chống thất thu thuế TNCN không phải là nhiệm vụ của riêng ngành thuế. Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên cần chủ động xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ với các cơ quan khác. Phối hợp với hệ thống ngân hàng để kiểm soát các giao dịch đáng ngờ, quản lý thu nhập qua tài khoản. Hợp tác với chính quyền địa phương (xã, phường) để nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh của các cá nhân, hộ gia đình. Phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước khác để trao đổi thông tin về đăng ký kinh doanh, đăng ký tài sản. Sự hợp tác đồng bộ này sẽ tạo ra một mạng lưới quản lý chặt chẽ, bịt kín các kẽ hở pháp luật mà các đối tượng thường lợi dụng để trốn thuế.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: thuế thu nhập cá nhân và thu nhập cá nhân. Chương 2: công tác thu nhập cá nhân. Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 2009 - 2012. Chương 4: G hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 2015.

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÍ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 1. Hoàn cảnh ra đời của thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc. Thuế xuất hiện khi trong xã hội xuất hiện sản phẩm thặng dƣ cùng với sự phân chia giai cấp, Thuế đƣợc giai cấp thống trị dùng nhƣ một công cụ để tạo ra nguồn thu chủ yếu cho mọi nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nƣớc nói chung hay của giai cấp thống trị nói riêng.

Vì thế, Thuế đƣợc xem nhƣ một phạm trù vừa có tính lịch sử vừa là một tất yếu khách quan đáp ứng nhu cầu của Nhà nƣớc trong quá trình tồn tại và phát triển của mình. Giai cấp thống trị- vua chúa sử dụng thuế nhƣ một công cụ kinh tế quan trọng nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nƣớc, qua tiến trình tiến triển của lịch sử, hiện nay thuế vẫn đƣợc sử dụng với đúng mụch đích của nó nhƣng bản chất của Thuế ở các nƣớc lại không giống nhau, nó tùy thộc vào bản chất Nhà nƣớc và cách thức sử dụng nguồn thu từ thuế [1]. Ở miền Nam Việt Nam, năm 1962 chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế TNCN nhƣng với tên gọi là thuế lợi tức lƣơng bổng và sau đó đƣợc cải cách vào năm 1972. Ngày 27/12/1990, Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao (Income Tax on high - Income earner) đã đƣợc Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội thông qua.

Ðể phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, từ đó đến nay đã có nhiều lần lần sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao: lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày 6/2/1997, lần thứ 4 vào ngày 30/6/1999, lần thứ năm vào ngày 13/6/2001 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2001 và lần thứ 6 là Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-UBTVQH11 ban hành năm 2004 có hiệu lực từ ngày 01/07/2004… đến năm 2007, Quốc Hội đã ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12. Đến năm 2012, Luật Thuế TNCN đã đƣợc sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành từ 1/7/2013, trong đó có nhiều thay đổi theo chiều hƣớng tạo thông thoáng, thuận lợi hơn cho đối tƣợng nộp thuế với các quy định mới về thu nhập chịu thuế, thu nhập miễn thuế, các khoản giảm trừ. Với mục tiêu đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phát sinh và từng bƣớc triển khai Chiến lƣợc cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020, tại kỳ họp thứ tƣ, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 6 Luật thuế TNCN sẽ đƣợc chính thức áp dụng từ ngày 01/7/2013.

Theo đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN đã sửa 6 điều trong tổng số 35 điều của Luật thuế TNCN số 04/2007. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Thu nhập luôn gắn với một chủ thể nhất định trong nền kinh tế, xã hội thể hiện tính sở hữu của thu nhập. Việc xác định thu nhập của các chủ thể khác nhau trong một thời gian nhất định đƣợc biểu hiện dƣới hình thức tiền tệ - là hình thức thông qua đó biết đƣợc tổng thu nhập các nguồn khác nhau của một cá nhân hay một pháp nhân. Thu nhập đƣợc hình thành thông qua quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, do thị trƣờng và Nhà nƣớc thực hiện.

Từ các đặc điểm trên, khái niệm về thu nhập đƣợc tổng hợp nhƣ sau “Thu nhập là tổng các giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ do một chủ thể trong nền kinh tế - xã hội tạo ra và nhận được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời gian nhất định - thường là một năm” [16]. Thuế TNCN là một trong các sắc thuế xuất hiện khá sớm trong lịch sử phát triển thuế khoá của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển. Thuế TNCN đầu tiên đƣợc áp dụng tại Hà Lan vào năm 1797, sau đó là Anh Quốc vào năm 1799. Lúc đầu Anh Quốc đƣa vào thực hiện nhƣ một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và đƣợc chính thức áp dụng vào năm 1942, một số nƣớc tƣ bản phát triển khác cũng áp dụng thuế này nhƣ Ðức (1899), Hoa Kỳ (1903), Pháp (1916).

Các nƣớc Châu Á nhƣ: Thái Lan áp dụng năm 1939, Philipin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, In-đô-nê-xia năm 1949, Trung quốc năm 1984; Những nƣớc Đông Âu thuộc các nền kinh tế chuyển đổi nhƣ Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992. Hiện nay trên thế giới đã có khoảng 180 nƣớc áp dụng thuế TNCN. Ƣu điểm của cách này là đơn giản, dễ thực hiện, đảm bảo thu kịp thời vào ngân sách Nhà nƣớc. Nhƣng có nhƣợc điểm là chƣa đảm bảo yêu cầu phân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế sao cho có hiệu quả, đáp ứng đƣợc sự công bằng xã hội và nhất là đối với những cá nhân có nhiều ngƣời phụ thuộc.

Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận đƣợc thu nhập dƣới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn nào (do lao động, hay đầu tƣ…) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp cho Nhà nƣớc dƣới dạng thuế thu nhập. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 7 Cho đến nay, có nhiều khái niệm khác nhau về thuế do quan điểm về Thuế ở các nƣớc khác nhau nhƣ: “Thuế là một khoản thu của nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, Thuế là khoản thu có tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp theo luật định” [18]. “Thuế TNCN là thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế có được của cá nhân trong kỳ tính thuế (thường là một năm)” [24]. Theo Marx “Thuế là cở sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước" [18; tr.

267-305] Các nhà nghiên cứu kinh tế khác cho rằng “Thuế là hình thức phân phối thu nhập tài chính của Nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lại”. Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về Thuế khác nhau nhƣng có thể thấy những điểm tƣơng đồng sau: Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân phải nộp cho Nhà nƣớc khi có những điều kiện nhất định. Thuế mang tính bắt buộc và không mang tính hoàn trả trực tiếp, ngang giá. Một phần thuế nộp vào ngân sách Nhà nƣớc đƣợc trả về với ngƣời dân một cách gián tiếp dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣ trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội và quỹ tiêu dùng khác.

Trên cơ sở nhƣng khái niệm về Thuế, có thể rút ra khái niệm về thuế TNCN theo pháp luật hiện hành nhƣ sau: “Thuế thu TNCN là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoảng thu nhập từ kinh doanh, đầu tư,…. Thuế TNCN được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt” [32]. Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân Một là, thuế TNCN là thuế trực thu, đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân. Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tƣợng nộp thuế theo luật và đối tƣợng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế.

Ngƣời nộp thuế cũng là ngƣời chịu thuế, ngƣời chịu thuế TNCN không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế sang cho các đối tƣợng khác tại thời điểm đánh thuế. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 8 Hai là, thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh: - Đối tƣợng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh thuế, không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nƣớc hay ở nƣớc ngoài. - Đối tƣợng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những ngƣời có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nƣớc sở tại và những ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú thƣờng xuyên hay không thƣờng xuyên nhƣng có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế TNCN. Ba là, thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định.

Phân phối khoản thu nhập qua thuế TNCN gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nƣớc. Bốn là, thuế thu nhập cá nhân là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp. Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà ngƣời nộp thuế phải trả cho Nhà nƣớc do đƣợc hƣởng các dịch vụ Nhà nƣớc cung cấp. Năm là, thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia.

Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội khác (nhƣ phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…). Sáu là, thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nƣớc sở tại và ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú thƣờng xuyên hay không thƣờng xuyên tại nƣớc đó và hầu nhƣ tất cả số thu nhập có đƣợc của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nƣớc hay ngoài nƣớc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ