CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ 1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý thuế 1.1 Khái niệm quản lý thuế QLT là lĩnh vực quản lý chuyên nghành, vì vậy, để tiếp cận khái niệm QLT, trước hết cần tiếp cận khái niệm quản lý. Khái niệm quản lý xuất hiện từ khi có hoạt động chung của con người. Tuỳ theo yêu cầu, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu mà ta có thể hiểu chủ thể quản lý và những đối tượng bị quản lý ở chừng mực nhất định [19,tr.11] Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là “Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Theo một cách hiểu khác, quản lý là một phạm trù để chỉ những mối quan hệ và giữa các chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đề ra trong điều kiện có sự biến đổi của môi trường [23, tr.
Có một số định nghĩa về quản lý được ghi nhận ở các tài liệu khác: “Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích đúng ý chí và phù hợp với quy luật khách quan” [13, tr. Hoặc “Quản lý là thuật ngữ chỉ hoạt động của con người nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra. các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất” [22, tr.136] Nhìn chung, các khái niệm về quản lý đều đưa đến một quan điểm thống nhất rằng, quản lý là hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu đã 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và thúc đẩy những hoạt động của con người trong tổ chức đó. Quản lý thuế là một dạng quản lý xã hội kể từ khi có Nhà nước và gắn liền với quyền lực Nhà nước.
Khái niệm QLT cũng đã là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và cũng đã có nhiều cách tiếp cận.Mỗi quan niệm đều nhìn nhận QLT ở một góc độ, phạm vi khác nhau, với những mục đích và ý nghĩa thực tiễn khác nhau. Tổng cục Thuế Latvia cho rằng “QLT là một hệ thống những quá trình có quan hệ ch t ch với nhau nhằm mục tiêu đảm bảo thu thuế đúng, đủ và c ng bằng trên cơ sở quy định của pháp luật thuế, bao g m các hoạt động thu nhận h sơ khai thuế, tính toán số thuế phải nộp, đ n đốc thu nộp thuế và cung cấp dịch vụ tư vấn cho người nộp thuế”. Theo Luật QLT Trung Quốc: “QLT là một chuỗi các hoạt động bảo đảm mục tiêu thu NSNN bao g m: quản lý đăng ký thuế, quản lý sổ sách chứng từ, quản lý khai báo nộp thuế, truy thu tiền thuế, kiểm tra thuế và đảm bảo trách nhiệm pháp luật về thuế” [18, tr.18] Theo Giáo trình quản lý tài chính nhà nước của trường đại học Tài chính (2000) thì QLT được xem như là quản lý thu thuế bằng các biện pháp hành chính của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khái niệm QLT theo Tài liệu Bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức mới của Tổng cục Thuế được hiểu là “hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo cho người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào Ngân sách nhà nước theo quy định của Pháp luật” Tuy nhiên, dù tiếp cận dưới khía cạnh nào thì QLT cũng đều được xác định là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành được thực hiện bởi những chủ thể mang quyền lực nhất định, được nhà nước giao phó nhằm hướng tới mục đích đã đặt ra trong quá trình quản lý hành chính và quản lý kinh tế của đất nước.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có thể tiếp cận khái niệm QLT dưới hai góc độ sau: Theo nghĩa rộng : QLT là quản nhà nước trong lĩnh vực thuế, là quá trình xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành các luật thuế, tổ chức, quản lý, điều hành, thanh tra, giám sát việc thực hiện các luật thuế; thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế. Theo nghĩa hẹp : QLT là quản lý hành chính nhà nước về lĩnh vực thuế, là việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu - nộp thuế theo một trình tự nhất định, là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về thuế thông qua sự tự giác của chính đối tượng nộp thuế, sự hỗ trợ của cơ quan thuế cũng như các cơ quan nhà nước có liên quan Luật QLT số 78/2006/QH11 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 (sau đây viết tắt là luật QLT) tiếp cận vấn đề QLT theo nghĩa hẹp. Luật không đưa ra khái niệm cụ thể về QLT mà chỉ nêu ra các nội dung trong QLT tại Điều 3 của luật. Theo đó, nội dung quản lý thuế bao gồm: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.
Từ điều luật này có thể thấy, pháp luật QLT bao gồm các quy định mang tính thủ tục được xây dựng để thực hiện các chính sách thuế của nhà nước. Đối tượng tác động của QLT bao gồm: người nộp thuế, cơ quan QLT và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Trong đó, mỗi đối tượng giữ một vai trò và vị trí khác nhau nhằm đảm bảo cho các luật thuế được thi hành nghiêm chỉnh và thuận lợi, cụ thể. Người nộp thuế (NNT) là đối tượng được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật về chính sách thuế.
Các tổ chức có trách nhiệm nộp thuế thay người nộp thuế, tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí thuộc NSNN cũng được coi là người nộp thuế, chịu sự điều chỉnh của luật QLT và có các quyền 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hạn, trách nhiệm như tổ chức, cá nhân nộp thuế. Các chính sách thuế có được thực thi nhanh chóng hay không phụ thuộc vào ý thức tự giác và trung thực của NNT. Hiện nay, pháp luật đã có nhiều quy định mở tạo điều kiện cho người nộp thuế có thể thực hiện nghĩa vụ của mình một cách thuận tiện nhất như: cơ chế tự kê khai nộp thuế, kê khai thuế qua mạng…Đó cũng là yếu tố tạo nên tính hiện đại của QLT trong giai đoạn hiện nay. Theo Luật QLT, cơ quan QLT thuế bao gồm hệ thống các cơ quan thuế và cơ quan hải quan, được tổ chức theo ngành dọc thống nhất từ Trung ương đến địa phương để quản lý các khoản thuế, thu NSNN phát sinh trong nội địa (đối với cơ quan thuế) và quản lý các khoản thuế, thu NSNN phát sinh tại cửa khẩu hải quan (đối với cơ quan hải quan).
Pháp luật giao cho các cơ quan QLT các chức năng, nhiệm vụ nhất định để tổ chức thực hiện chính sách thuế hiệu quả nhất. Các tổ chức, cá nhân có liên quan bao gồm các CQNN, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, cá nhân có liên quan đến hoạt động phát sinh nghĩa vụ nộp thuế, tình hình tuân thủ pháp luật của người nộp thuế hoặc liên quan đến công tác quản lý của cơ quan thuế. Họ có vai trò quan trọng trong việc nâng cao trách nhiệm pháp lý của cộng đồng xã hội trong việc thực thi và giám sát chấp hành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, có thể kể đến như Kho bạc Nhà nước, cơ quan Tài Nguyên- môi trường, Công an, Tòa án… Sự phối hợp giữa các nhóm đối tượng trong hoạt đông thu- nộp thuế được đặt dưới sự tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế với mục đích đảm bảo yếu tố nghiêm chỉnh chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách Nhà nước, tránh tình trạng thất thoát nguồn thu do trốn thuế, nợ thuế gây ra.2 Đặc điểm của quản lý thuế. Vấn đề QLT là nội dung được ghi nhận tại một văn bản độc lập- Luật QLT.
Về tổng thể, Luật QLT thuế hướng tới việc thiết lập khung pháp lý 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chung, áp dụng thống nhất trong quá trình thực thi tất cả các chính sách thuế, khắc phục được tình trạng chia cắt, tách biệt về phương thức quản lý giữa các loại thuế, tạo nền tảng cho việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp. Về bản chất, QLT là quản lý hành chính nhà nước về Thuế. Do đó, bên cạnh các đặc điểm chung về tính bắt buộc và cưỡng chế thi hành, QLT mang những đặc điểm đặc trưng sau: Thứ nhất, QLT là một hệ thống thống nhất giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với nhau, giữa xây dựng chính sách thuế với tổ chức hành thu. Điều đó có nghĩa là quản lý thuế vừa là hoạt động ban hành các văn bản pháp luật về thuế, về quy trình thu- nộp thuế, vừa là quá trình các CQNN có thẩm quyền đưa các quy định đó vào thực tế trên cơ sở có sự trao đổi, phối hợp giữa các cơ quan với mục đích vừa duy trì ổn định nguồn thu cho NSNN vừa đảm bảo được quyền lợi cho các đối tượng nộp thuế.
Với tính chất là hoạt động quản lý hành chính trong một lĩnh vực cụ thể, QLT là một hoạt động nhạy cảm, phức tạp, đòi hỏi phải đảm bảo lợi ích của cả hai bên: nhà nước và NNT. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu đổi với các cơ quan QLT phải có những phương thức quản lý linh hoạt, tránh tuỳ tiện đề ra các quy định có tính áp đặt, độc đoán. Lịch sử đã chứng minh những bức xúc với chế độ thuế khoá có thể kéo theo những chuyển biến chính trị rất căn bản.