Tổng quan nghiên cứu

Công tác thu ngân sách tại Chi cục Thuế khu vực Quảng Trạch – Ba Đồn ghi nhận những chuyển biến tích cực trong năm 2023 khi Đội thuế số 1 đạt 106,9% và Đội thuế số 2 đạt 125,4% so với dự toán pháp lệnh được giao. Tuy nhiên, hoạt động quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể vẫn đối mặt với áp lực lớn khi tổng nợ thuế lũy kế đến ngày 31/12/2023 tại Đội 1 là 703 triệu đồng và Đội 2 là 1.008 triệu đồng. Khu vực kinh tế cá thể trên địa bàn có hơn 3.852 hộ hoạt động phân tán tại 27 xã và 6 phường, chủ yếu sử dụng tiền mặt và chưa thực hiện nghiêm túc chế độ hóa đơn chứng từ. Thực tế này dẫn đến nguy cơ thất thu ngân sách từ 10% đến 15% mỗi năm do việc xác định doanh thu khoán chưa bám sát thực tế kinh doanh.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế khu vực Quảng Trạch – Ba Đồn giai đoạn 2021–2023, từ đó xác lập hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thu nộp và giảm thiểu nợ đọng. Về phạm vi nghiên cứu, đề tài khai thác toàn diện dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2021–2023 và số liệu khảo sát sơ cấp thu thập trong 6 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn thị xã Ba Đồn và huyện Quảng Trạch. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học nhằm hỗ trợ cơ quan thuế địa phương tối ưu hóa quy trình quản lý bộ thuế khoán, bảo đảm sự công bằng nghĩa vụ tài chính và củng cố nguồn thu ngân sách nhà nước bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết tuân thủ thuế của Allingham và Sandmo kết hợp mô hình quản lý rủi ro tuân thủ hiện đại trong khu vực công. Khung phân tích tập trung vào hành vi của người nộp thuế dưới tác động của cơ chế thanh tra, mức xử phạt và ý thức pháp luật. Đồng thời, đề tài tích hợp mô hình quy trình quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh theo Quyết định số 2371/QĐ-TCT của Tổng cục Thuế, bao gồm chu trình khép kín từ điều tra doanh thu, lập bộ, công khai thông tin đến đôn đốc thu nộp.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu gồm:

  1. Hộ kinh doanh cá thể: Thực thể kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình thành lập, không có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản theo Nghị định số 01/2021/NĐ-CP.
  2. Quản lý thuế hộ kinh doanh: Hoạt động thực thi quyền lực nhà nước của cơ quan thuế theo Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 nhằm bảo đảm thu đúng, thu đủ và kịp thời.
  3. Phương pháp khoán thuế: Phương thức cơ quan thuế ấn định doanh thu và mức thuế phải nộp theo Điều 51 Luật Quản lý thuế đối với các hộ không thực hiện đầy đủ chế độ kế toán.
  4. Thuế suất theo ngành: Cơ chế xác định thuế giá trị gia tăng từ 1% đến 5% và thuế thu nhập cá nhân từ 0,5% đến 2% trên doanh thu theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC áp dụng cho 4 nhóm ngành nghề kinh doanh chính đối với các hộ có doanh thu trên 100 triệu đồng mỗi năm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tổng kết thu ngân sách, số liệu thống kê quản lý bộ thuế khoán và hồ sơ theo dõi nợ đọng của Chi cục giai đoạn 2021–2023. Dữ liệu sơ cấp được điều tra qua phiếu hỏi thiết kế theo thang đo Likert 5 mức độ trong nửa đầu năm 2024.

Quy mô và phương pháp chọn mẫu được triển khai bài bản cho 2 nhóm đối tượng:

  • Khảo sát cán bộ thuế: Áp dụng phương pháp điều tra toàn bộ đối với 62 cán bộ công chức thuộc biên chế Chi cục, thu về 47 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ phản hồi 75,8%.
  • Khảo sát hộ kinh doanh: Tổng thể gồm 2.155 hộ kinh doanh nộp thuế khoán. Áp dụng công thức tính mẫu với mức sai số cho phép 10%, cỡ mẫu tối thiểu cần đạt là 96 hộ. Nhóm tác giả phát ngẫu nhiên 110 phiếu và thu về 108 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ phản hồi 98,2%.

Việc lựa chọn phần mềm Excel để thống kê mô tả, phân tích tần số và so sánh các chỉ số tương đối, tuyệt đối giúp phản ánh trực quan thực trạng quản lý mà không làm sai lệch tính khách quan của dữ liệu. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được triển khai đồng bộ từ quý IV năm 2023 đến giữa năm 2024.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tế tại Chi cục Thuế khu vực Quảng Trạch – Ba Đồn giai đoạn 2021–2023 làm nổi bật 3 vấn đề cốt lõi:

Thứ nhất, cơ cấu ngành nghề của hộ kinh doanh có sự chênh lệch sâu sắc. Năm 2021, lĩnh vực phân phối, cung cấp hàng hóa chiếm tỷ trọng áp đảo với 2.080 hộ, tương đương 87,63% tổng số hộ quản lý. Trong khi đó, nhóm dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu chỉ có 72 hộ (chiếm 3,66%), nhóm sản xuất và vận tải có 200 hộ (chiếm 8,3%), và nhóm kinh doanh khác chỉ chiếm 20 hộ. Đến năm 2023, dù có sự dịch chuyển sang nhóm sản xuất dịch vụ với 534 hộ, lĩnh vực bán lẻ và phân phối hàng hóa vẫn chiếm trên 68% quy mô kinh doanh.

Thứ hai, kết quả thu ngân sách đạt mục tiêu kế hoạch nhưng tiềm ẩn rủi ro nợ đọng lớn. Dù năm 2023 cả hai đội thuế đều hoàn thành vượt mức dự toán (Đội 1 đạt 106,9%, Đội 2 đạt 125,4%), nợ đọng thuế chưa thu hồi vẫn neo ở mức cao. Tổng nợ thuế tính đến cuối năm 2023 lên tới 1.711 triệu đồng, trong đó Đội 2 chiếm 1.008 triệu đồng và Đội 1 chiếm 703 triệu đồng. Tình trạng nợ gối đầu, chây ỳ và giải thể tự phát diễn ra phổ biến.

Thứ ba, sự thiếu ổn định trong quy mô quản lý và hiệu lực thanh tra. Số hộ kinh doanh biến động từ 3.754 hộ năm 2021 lên trên 3.800 hộ năm 2022 và đạt 3.852 hộ vào đầu năm 2024. Tuy nhiên, tỷ lệ kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính chỉ chiếm dưới 5% tổng số hộ kinh doanh trên địa bàn, cho thấy công tác giám sát thực địa chưa bao quát hết các địa bàn vùng sâu.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu có thể được hệ thống hóa rõ ràng thông qua bảng cơ cấu tỷ trọng ngành nghề và biểu đồ cột biểu diễn biến động số hộ kinh doanh qua từng năm. Sự chuyển dịch số lượng hộ qua biểu đồ giai đoạn 2021–2023 thể hiện tốc độ phục hồi sau dịch bệnh, song độ phân tán rộng tại 27 xã khiến công tác nắm bắt doanh thu gặp trở ngại lớn.

Nguyên nhân căn bản dẫn tới nợ đọng thuế và thất thu bắt nguồn từ thói quen thanh toán bằng tiền mặt của người tiêu dùng địa phương. Hầu hết các hộ kinh doanh không mở sổ sách kế toán, không xuất hóa đơn khi bán lẻ, dẫn đến việc kê khai doanh thu chỉ mang tính đối phó. Khâu khảo sát doanh thu khoán của cán bộ thuế đôi lúc còn mang tính cảm tính, thiếu công cụ định lượng chuẩn xác.

So sánh với kinh nghiệm thực tiễn tại Chi cục Thuế huyện Bố Trạch và Chi cục Thuế khu vực Đồng Hới – Quảng Ninh, những đơn vị phát huy hiệu quả của việc phân quyền quản lý liên xã và ứng dụng Bản đồ số hộ kinh doanh đều kiểm soát nợ thuế tốt hơn. Bài học rút ra cho khu vực Quảng Trạch – Ba Đồn là phải gắn trách nhiệm từng cán bộ quản lý địa bàn với cơ chế giám sát chéo từ Hội đồng tư vấn thuế xã, phường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đổi mới quy trình khảo sát và định mức doanh thu khoán: Ban Lãnh đạo Chi cục chỉ đạo các Đội thuế liên xã phối hợp chặt chẽ với Hội đồng tư vấn thuế cấp xã tổ chức điều tra thực địa 100% các hộ kinh doanh trọng điểm trước ngày 15/12 hàng năm. Áp dụng bảng tiêu chí phân loại vị trí kinh doanh và lưu lượng khách hàng để giảm tỷ lệ sai lệch doanh thu khoán xuống dưới 8% trong giai đoạn 2024–2025.

  2. Tăng cường cưỡng chế và xử lý nợ đọng thuế: Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế chủ trì phối hợp với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh địa phương và Kho bạc Nhà nước thực hiện trích tiền từ tài khoản, công khai danh sách hộ nợ thuế trên hệ thống loa truyền thanh xã, phường. Đặt mục tiêu giảm tổng mức nợ đọng thuế tại hai đội từ 1.711 triệu đồng xuống dưới 500 triệu đồng trước quý IV năm 2025.

  3. Tăng tốc chuyển đổi số và khai thác Bản đồ số hộ kinh doanh: Bộ phận Tin học phối hợp cùng Đội Kê khai chuẩn hóa 100% dữ liệu mã số thuế trên hệ thống TMS. Đảm bảo đến hết năm 2025, tỷ lệ số hóa vị trí kinh doanh và công khai mức thuế khoán trên nền tảng bản đồ số đạt mức tối thiểu 95%, tạo điều kiện cho người dân giám sát minh bạch.

  4. Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ: Chi cục trưởng chỉ đạo Đội Nghiệp vụ - Pháp chế định kỳ tổ chức 4 đợt tập huấn nghiệp vụ mỗi năm cho toàn bộ 62 cán bộ công chức. Trọng tâm đào tạo là kỹ năng điều tra doanh thu số, kỹ năng kiểm tra rủi ro hóa đơn điện tử và văn hóa ứng xử với người nộp thuế trong lộ trình 2024–2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và lý luận cao, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Lãnh đạo và cán bộ Chi cục Thuế khu vực: Vận dụng trực tiếp quy trình kiểm soát bộ thuế khoán, quy trình cưỡng chế nợ thuế và các biện pháp phối hợp với chính quyền cơ sở nhằm hoàn thành dự toán thu ngân sách hàng năm.

  2. Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên chuyên ngành Quản lý kinh tế: Tiếp cận khung phân tích hoàn chỉnh với số liệu sơ cấp từ 47 cán bộ thuế và 108 hộ kinh doanh, làm tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu về kinh tế vi mô và quản trị hành chính công.

  3. Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền cấp huyện, thị xã: Ủy ban nhân dân thị xã Ba Đồn và huyện Quảng Trạch có thêm cơ sở thực tiễn để chỉ đạo các ban ngành phối hợp với ngành thuế, nâng cao hiệu lực hoạt động của Hội đồng tư vấn thuế cấp xã.

  4. Các chủ hộ sản xuất kinh doanh cá thể: Nắm bắt rõ ràng các quyền lợi, nghĩa vụ pháp lý, quy định về ngưỡng doanh thu miễn thuế 100 triệu đồng và mức thuế suất theo quy định hiện hành để chủ động tuân thủ, tránh rủi ro bị xử phạt vi phạm hành chính.

Câu hỏi thường gặp

  1. Ngưỡng doanh thu nào hộ kinh doanh cá thể được miễn nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân? Theo quy định tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và Thông tư số 92/2015/TT-BTC, hộ kinh doanh có doanh thu sản xuất kinh doanh trong năm dương lịch từ 100 triệu đồng trở xuống thuộc diện không phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân, đồng thời được miễn lệ phí môn bài.

  2. Kết quả thu ngân sách của Chi cục Thuế khu vực Quảng Trạch – Ba Đồn năm 2023 đạt mức nào? Trong năm 2023, Chi cục hoàn thành vượt mức kế hoạch giao, trong đó Đội thuế số 1 đạt 106,9% và Đội thuế số 2 đạt 125,4% so với dự toán pháp lệnh. Dẫu vậy, số nợ đọng thuế vẫn còn ở mức cao với tổng cộng 1.711 triệu đồng tại hai đội thuế.

  3. Quy mô mẫu khảo sát của đề tài được lựa chọn dựa trên tiêu chí nào? Đề tài khảo sát toàn bộ 62 cán bộ thuế của Chi cục (thu về 47 phiếu hợp lệ, đạt 75,8%) và áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên từ 2.155 hộ kinh doanh nộp thuế khoán với mức sai số 10%, phát ra 110 phiếu và thu về 108 phiếu hợp lệ (đạt 98,2%).

  4. Tại sao ngành phân phối hàng hóa lại chiếm tỷ trọng lớn tại khu vực nghiên cứu? Thực tế kinh tế tại Quảng Trạch và Ba Đồn chủ yếu là thương mại truyền thống, bán lẻ tại các chợ và cửa hàng tạp hóa nông thôn. Năm 2021, nhóm này chiếm tới 2.080 hộ trên tổng số hộ kinh doanh, phản ánh đặc thù kinh tế dịch chuyển chậm của địa phương.

  5. Luận văn đề xuất giải pháp đột phá nào để hạn chế thất thu thuế khoán? Nghiên cứu nhấn mạnh việc số hóa toàn bộ dữ liệu lên Bản đồ số hộ kinh doanh với mục tiêu bao phủ 95% hộ kinh doanh trước năm 2025, kết hợp khảo sát thực địa độc lập trước ngày 15/12 để hạn chế tính chủ quan khi định mức doanh thu.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá chân thực bức tranh thực trạng tại Chi cục Thuế khu vực Quảng Trạch – Ba Đồn giai đoạn 2021–2023 với quy mô quản lý 3.852 hộ và kết quả thu đạt trên 106% dự toán.
  • Chỉ rõ những mắt xích yếu kém trong quản lý nợ đọng với 1.711 triệu đồng tiền thuế nợ chưa thu hồi và công tác ấn định doanh thu khoán còn mang tính hình thức.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi, kết hợp giữa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gồm 62 cán bộ với việc áp dụng công nghệ thông tin và bản đồ số.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học thực chứng quý giá cho công tác hoạch định chính sách thu ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn 2024–2026.

Để phát huy tối đa giá trị nghiên cứu, các cấp quản lý thuế cần nhanh chóng thể chế hóa các giải pháp kiểm tra và ứng dụng bản đồ số vào kế hoạch công tác hàng năm, thúc đẩy môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng cho mọi thành phần kinh tế.