phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn tốt nghiệp gồm bốn chương sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế và quản lý thuế đối với dịch vụ du lịch; Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu; Chƣơng 3: Thực trạng quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ tàu du lịch trên Vịnh Hạ Long; Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ tàu du lịch trên Vịnh Hạ Long. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DỊCH VỤ DU LỊCH 1. Tổng quan về thuế 1. Một số khái niệm về thuế Thuế là một phạm trù kinh tế tài chính mang tính khách quan, đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử.
Vào thời kỳ Cộng sản nguyên thuỷ, con người lao động đủ để duy trì sự sống của mình, xã hội chưa biết đến thuế. Cùng với sự phát triển của sản xuất, xã hội loài người có sự phân chia thành giai cấp và đấu tranh giữa các giai cấp, Nhà nước ra đời, chế độ đóng góp theo phương thức tự nguyện của dân cư trong chế độ Cộng sản nguyên thủy không còn phù hợp nữa. Để duy trì bộ máy Nhà nước, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, quốc phòng an ninh. đòi hỏi Nhà nước phải có nguồn tài chính để chi tiêu.
Nguồn tài chính này có được là do sự đóng góp của mọi thành viên trong xã hội và sự đóng góp này mang tính bắt buộc, đó chính là thuế. Ở nước ta, theo một số nhà nghiên cứu: Thuế là hình thức động viên, phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo pháp luật của Nhà nước quy định, nhằm đáp ứng những khoản chi tiêu cần thiết của Nhà nước. Đó là khoản thu của Nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội; khoản thu này mang tính bắt buộc không hoàn trả trực tiếp. Trong một số công trình nghiên cứu về thuế, các nhà kinh tế cho rằng, khái niệm thuế cần phải nêu được khía cạnh sau: Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với pháp nhân và thể nhân; những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh Nhà nước, xét theo khía cạnh pháp luật thuế là khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Tóm lại, trên góc độ tài chính thì thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế (ĐTNT). Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Các loại thuế Theo những tiêu thức khác nhau thì thuế phân chia làm nhiều loại khác nhau.
Thông thường, thuế được phân loại theo các tiêu thức sau: 1. Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào NSNN Thuế được phân làm 2 loại: Thuế trực thu và Thuế gián thu. - Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của NNT, theo quy định của pháp luật thì NNT đồng thời cũng là người chịu thuế. Ở nước ta thuộc loại thuế này gồm: Thuế TNDN, thuế TNCN, thuế Sử dụng đất nông nghiệp,.
- Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng thông qua việc thu thuế đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Như vậy, NNT và người chịu thuế không là một: Chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh là NNT cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người chịu thuế, số thuế đó được cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng phải trả. Ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế GTGT, thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu, thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB). Căn cứ vào đối tượng đánh thuế Căn cứ vào đối tượng đánh thuế, có thể chia thành các loại thuế cơ bản sau: - Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế GTGT.
- Thuế đánh vào sản phẩm, hàng hoá như thuế Xuất nhập khẩu, thuế TTĐB. - Thuế đánh vào thu nhập như thuế TNDN, thuế TNCN. - Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất. - Thuế đánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như thuế Tài nguyên, thuế Sử dụng đất nông nghiệp.
Phân loại theo sắc thuế Có các sắc thuế như sau: Thuế môn bài, thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN, thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế bảo vệ môi trường, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Đặc điểm của thuế - Thứ nhất: Thuế là một biện pháp tài chính của Nhà nước mang tính quyền lực, tính cưỡng chế, tính pháp lý cao nhưng sự bắt buộc này là phi hình sự. - Thứ hai: Thuế mang tính bắt buộc, song sự bắt buộc đó luôn luôn được xác lập trên nền tảng kinh tế xã hội của người làm nhiệm vụ đóng thuế, do đó thuế bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 8 + Yếu tố kinh tế thể hiện: Hệ thống thuế trước hết phải kể đến thu nhập bình quân đầu người của một quốc gia, cơ cấu kinh tế, thực tiễn vận động của cơ cấu kinh tế đó, cũng như chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước.
Cùng với yếu tố đó còn phải kể đến phạm vi, mức độ chi tiêu của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng kinh tế của mình. + Yếu tố xã hội thể hiện: Hệ thống thuế phải dựa trên phong tục, tập quán của quốc gia, kết cấu giai cấp cũng như đời sống thực tế của các thành viên trong từng giai đoạn lịch sử. Mặt khác, thuế còn thực hiện phân phối lại thu nhập xã hội, đảm bảo công bằng xã hội. - Thứ ba: Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp.
Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn trả đúng bằng số lượng và khoản thu mà Nhà nước thu từ công dân đó như là một khoản vay mượn. Nó sẽ được hoàn trả lại cho NNT thông qua cơ chế đầu tư của NSNN cho việc sản xuất và cung cấp hàng hoá công cộng. Chức năng của thuế Thuế có hai chức năng cơ bản, có tác động lẫn nhau là: - Chức năng phân phối và phân phối lại: Đây là chức năng cơ bản, đặc thù của thuế. Thuế là phương tiện dùng để huy động nguồn tài chính vào NSNN, qua đó, Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội.
Phần lớn thuế đánh trên hàng hóa và thu nhập. Người có thu nhập cao và sử dụng nhiều hàng hóa, dịch vụ (HHDV) là người nộp thuế nhiều hơn. Số tiền này sau đó lại được Nhà nước chi nhằm thực hiện chính sách kinh tế xã hội, tạo ra tính công bằng tương đối cho xã hội. Trong một chừng mực nhất định, chức năng phân phối và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết của thuế.
Chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng quan trọng do sự phát triển, mở rộng các chức năng của Nhà nước và việc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của Nhà nước vào các quá trình phát triển kinh tế. - Chức năng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế: Thuế góp phần điều tiết nền kinh tế theo mục tiêu được dự liệu trước vào Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 9 trong quá trình huy động tập trung nguồn tài chính. Chức năng điều chỉnh được thực hiện thông qua việc xây dựng các loại thuế, cơ cấu - mối quan hệ giữa chúng, xác định đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế, xây dựng hợp lý các mức thuế phải nộp qua việc xác định thuế suất, chế độ miễn giảm thuế phù hợp điều kiện thực tế có tính đến khả năng của NNT. Đối với những ngành nghề, những hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ cho đại đa số quần chúng nhân dân cần khuyến khích thì áp dụng thuế suất thấp; ngược lại những ngành nghề không có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế, cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân hoặc những ngành nghề ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đến sức khoẻ của nhân dân cần hạn chế, thu hẹp thì áp dụng thuế suất cao.
Trên cơ sở đó, Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội. Hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điều tiết. Chức năng điều tiết của thuế cũng có tác động ngược lại làm thúc đẩy hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng tới chức năng phân phối và phân phối lại.
Vai trò của thuế - Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực cho Nhà nước: Thuế tạo nguồn thu cho NSNN, nhưng nguồn thu đó cần được hình thành trên cơ sở nền kinh tế tăng trưởng và đạt hiệu quả cao, đây chính là huy động nhưng phải đảm bảo “nuôi nguồn thu” cho tương lai. Vấn đề này luôn được các quốc gia quan tâm đúng mức trong quá trình hoạch định chính sách và tổ chức quản lý thu thuế.