CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN 1. Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế tài nguyên 1.1 Một số khái niệm * Khái niệm về thuế Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu có nhiều khác biệt. Nhìn chung, các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế. Chẳng hạn theo quan niệm của Ph.Ăngghen trong tác phẩm nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá.
Với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực Nhà nước. Cũng từ luận điểm này, Mác phát triển thêm rằng trong một Nhà nước có giai cấp (một giai cấp giành được quyền thống trị) thì thuế thực ra là khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lực của giai cấp đó. Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế. Quan điểm này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội trong việc củng cố lập trường đấu tranh giai cấp.
Bên cạnh đó, cũng có những quan điểm khác nhau về thuế, được nhìn nhận trên các bình diện khác nhau. Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass and Bryan Lowes (1994), đứng trên giác độ đối tượng chịu thuế đã cho rằng: Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp, trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ và trên tài sản. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện được nêu trong cuốn "Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell and Bruy-M (1993), dựa trên cơ sở đối giá như sau: "Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty hoặc các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản tiền đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật" (Thuế Nhà nước, 2000). Trong quan điểm này người ta chỉ nhìn nhận thuế trên giác độ các đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế, không nói đến việc sử dụng tiền thuế để làm gì, chỉ thể hiện việc đánh thuế như là một nghĩa vụ công dân của các doanh nghiệp và hộ gia đình với đất nước mình đang kinh doanh hoặc sinh sống.
Các quan điểm này cũng chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển của thuế trong thời đoạn lịch sử nhất định. Trên giác độ phân phối thu nhập định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Trên giác độ người nộp thuế thì: Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Trên giác độ kinh tế học thì: Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Những khái niệm về thuế nêu trên mới chỉ nhấn mạnh một chiều theo quan niệm của từng góc độ khác nhau nên chưa thật đầy đủ và chính xác được bản chất của thuế. Đến nay tuy chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nhưng các nhà kinh tế đều thống nhất cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế, thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau: - Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp; - Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt – việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước; - Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định; - Và việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung. Trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, thì một định nghĩa về thuế vẫn còn đang được áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế thị trường, điển hình là khái niệm về thuế của Gaston Jèze (1934) trong Giáo trình tài chính công. Dựa vào định nghĩa này và các yêu cầu nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm về thuế như sau: Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng.
* Khái niệm về thuế tài nguyên và chính sách thuế tài nguyên Thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, thu vào hoạt động khai thác tài nguyên của các tổ chức, cá nhân, nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả góp phần bảo vệ tài nguyên đất nước, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước để bảo vệ, tái tạo, tìm kiếm, thăm dò tài nguyên. Xét về mặt bản chất, thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, thu vào người tiêu dùng, vì thuế tài nguyên đã được tính trong giá thành sản phẩm tài nguyên. Người khai thác chỉ là người nộp hộ cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 xét ở góc độ quan hệ sở hữu, nó mang tính chất là một khoản thu về từ việc chuyển nhượng TNTN giữa một bên là Nhà nước, một bên là các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên.
Bản chất của vấn đề này tương tự như việc các tổ chức, cá nhân trả tiền để mua tài nguyên từ các quốc gia khác về để sản xuất, kinh doanh. Để thực hiện được mức thu thuế tài nguyên theo mục tiêu đề ra người ta phải sử dụng công cụ để thực hiện đó chính là chính sách thuế tài nguyên. Chính sách thuế tài nguyên là hệ thống các biện pháp, cách thức của Nhà nước tác động vào việc sử dụng tài nguyên nhằm mục đích khai thác sử dụng mọi nguồn tài nguyên của đất nước một cách có hiệu quả và tiết kiệm, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Chính sách thuế tài nguyên là một trong những công cụ về tài chính, thể hiện vai trò sở hữu Nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của các tổ chức, cá nhân.
Nhà nước cũng đã ban hành các Luật, Nghị định và Thông tư hướng dẫn liên quan đến thuế tài nguyên cụ thể như: Luật số 71/2014/QH13 ban hành ngày 26/11/2014; Nghị định 50/2010/NĐ-CP ban hành ngày 14/5/2010 về Quy định, hướng dẫn thi hành luật thuế tài nguyên, Nghị định 12/2015/NĐ-CP ban hành ngày 12/02/2015 sửa đổi bổ sung một số điều NĐ 50/2010/NĐ-CP, Thông tư 152/2015/TT-BTC ban hành ngày 02/10/2015 hướng dẫn về Thuế tài nguyên, Thông tư 174/2016/TT-BTC và Thông tư 12/2016/TT-BTC sửa đổi bổ sung một số khoản; Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-BTC hợp nhất hai Nghị định 12 và 50; các công văn,…. Các văn bản chính sách quy định về thuế tài nguyên đã phần nào giúp cho việc quản lý thuế tài nguyên được hiệu quả hơn đặc biệt là quản lý thu thuế tài nguyên. * Khái niệm về quản lý thu thuế tài nguyên Quản lý thu thuế là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 có nhiều cách quan niệm khác nhau. Mỗi quan niệm đều nhìn nhận quản lý thuế ở một góc độ, phạm vi khác nhau và với mục đích, ý nghĩa thực tiễn khác nhau.
Dù vậy theo chúng tôi, các quan niệm về quản lý thu thuế đều có các điểm chung là: + Đều đề cập đến các nội dung của khâu hành pháp về thuế, + Đều đề cập đến sự tác động của chủ thể quản lý lên người bị quản lý bằng các phương thức, phương tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định. Chủ thể quản lý là Nhà nước (mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp). Người bị quản lý là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ về thuế. Mục đích quản lý là để người nộp thuế và các người có liên quan phải thực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế của mình.
Phương tiện quản lý là sử dụng các quy định về đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế với bộ máy, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất cần thiết để quản lý. Quản lý nhà nước về thuế là thuật ngữ dùng để chỉ tổng thể các khâu lập pháp, hành pháp và tư pháp về thuế, còn quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy Nhà nước, thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật định nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua. Theo nghĩa rộng, quản lý thu thuế là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về thuế thông qua sự tự giác của chính người nộp thuế và sự hỗ trợ của cơ quan thuế và các cơ quan Nhà nước có liên quan.