Tổng quan nghiên cứu

Thu ngân sách nhà nước trong 6 tháng đầu năm 2022 của cả nước ước đạt 775.262 tỷ đồng, tương đương 66% dự toán pháp lệnh. Tại cấp huyện, quản lý thu thuế giá trị gia tăng là trụ cột tài chính then chốt nhằm duy trì nguồn lực phát triển hạ tầng và an sinh xã hội. Đại Từ là huyện miền núi thuộc tỉnh Thái Nguyên, có cơ cấu hành chính gồm 30 đơn vị cấp xã, thị trấn (gồm 2 thị trấn và 28 xã). Trong giai đoạn 2019 - 2021, hoạt động thu ngân sách trên địa bàn ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực, quy mô nguồn thu và số lượng đối tượng nộp thuế gia tăng liên tục. Riêng năm 2021, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện đạt 335.179 triệu đồng, bằng 146,2% dự toán tỉnh giao và tăng 81,7% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, nguồn thu thực tế của huyện Đại Từ vẫn chưa thực sự ổn định và chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế xã hội. Số thu sau khi loại trừ tiền sử dụng đất chỉ đạt 206.712 triệu đồng, tương ứng 122,2% dự toán được giao. Cơ cấu thu còn phụ thuộc nhiều vào các khoản thu đất mang tính ngắn hạn, trong khi thuế giá trị gia tăng từ hoạt động sản xuất kinh doanh còn thất thu do gian lận hóa đơn, trốn thuế và nhận thức pháp luật chưa đồng đều. Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn này, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Trần Thị Minh Hằng tại Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Đại học Thái Nguyên (năm 2022) tập trung phân tích thực trạng quản lý thu thuế giá trị gia tăng tại 30 xã, thị trấn huyện Đại Từ giai đoạn 2019 - 2021. Nghiên cứu xác lập các luận cứ khoa học để hoàn thiện quy trình thu, mở rộng cơ sở đánh thuế và đảm bảo mục tiêu tăng trưởng thu ngân sách bền vững hàng năm trên 10%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết tài chính công và lý thuyết hành vi tuân thủ thuế để phân tích mối quan hệ giữa cơ quan quản lý và người nộp thuế. Về mặt pháp lý, luận văn bám sát các chuẩn mực quy định tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và Luật Thuế Giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 (cùng các luật sửa đổi, bổ sung số 31/2013/QH13, số 106/2016/QH13). Khung lý thuyết tập trung vào 4 khái niệm nền tảng: bản chất thuế giá trị gia tăng là sắc thuế gián thu đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh từ khâu sản xuất đến tiêu dùng; cơ chế tự khai, tự nộp; ấn định thuế đối với hành vi vi phạm; và quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế.

Mô hình nghiên cứu phân định rõ hai phương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ (thuế phải nộp bằng thuế đầu ra trừ thuế đầu vào) và phương pháp trực tiếp trên doanh thu áp dụng cho hộ, cá nhân kinh doanh. Biểu thuế suất được phân tích theo 3 mức gồm 0%, 5% và 10%, đồng thời cập nhật chính sách giảm thuế suất xuống 8% theo Nghị định số 15/2022/NĐ-CP nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế. Khung thể chế cũng xem xét chế tài xử phạt hành chính từ 10% đến 20% trên số tiền thuế khai thiếu và phạt từ 1 đến 3 lần số thuế trốn để đánh giá mức độ răn đe vi phạm.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp hài hòa phương pháp định tính và định lượng dựa trên hai nguồn dữ liệu. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo quyết toán thu ngân sách, số liệu thống kê người nộp thuế giai đoạn 2019 - 2021 của Chi cục Thuế huyện Đại Từ và Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra thực địa với cỡ mẫu 120 đối tượng, bao gồm 30 cán bộ, công chức thuế thuộc Chi cục Thuế huyện Đại Từ và 90 người nộp thuế (gồm 45 đại diện doanh nghiệp và 45 chủ hộ kinh doanh cá thể tại 30 xã, thị trấn).

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp thuận tiện nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả khu vực đô thị thương mại (2 thị trấn) và vùng sâu, vùng xa (28 xã). Công cụ điều tra sử dụng bảng hỏi chuẩn hóa theo thang đo Likert 5 mức độ từ 1 điểm (hoàn toàn không đồng ý) đến 5 điểm (hoàn toàn đồng ý), chia thành 5 khoảng giá trị: kém (1,00 - 1,80 điểm), trung bình (1,81 - 2,60 điểm), khá (2,61 - 3,40 điểm), tốt (3,41 - 4,20 điểm) và rất tốt (4,21 - 5,00 điểm). Tác giả lựa chọn phương pháp thống kê mô tả và so sánh chỉ số tương đối, số tuyệt đối nhằm lượng hóa chính xác mức độ hài lòng của đối tượng nộp thuế, đồng thời làm rõ khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tế thực thi công vụ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng thu ngân sách nhà nước của huyện Đại Từ duy trì đà tăng trưởng cao nhưng cơ cấu thu thiếu tính ổn định. Năm 2021, số thu đạt 335.179 triệu đồng, vượt 46,2% dự toán tỉnh giao (229.220 triệu đồng) và vượt 42,8% dự toán huyện. Tuy nhiên, nếu trừ đi tiền sử dụng đất, số thu chỉ còn 206.712 triệu đồng (bằng 122,2% dự toán). Nguồn thu từ thuế giá trị gia tăng khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh tại 28 xã nông nghiệp còn rất hạn chế, chiếm tỷ trọng dưới 15% tổng thu cân đối.

Thứ hai, công tác lập kế hoạch và giao dự toán thu thuế giá trị gia tăng chưa sát với diễn biến thị trường. Chênh lệch giữa số thực thu và số dự toán qua các năm 2019 - 2021 dao động từ 15% đến trên 40%, cho thấy khâu dự báo nguồn thu chưa tính toán hết tốc độ biến động kinh tế và sự gia tăng của các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập.

Thứ ba, kết quả khảo sát 120 phiếu qua thang đo Likert chỉ ra sự khác biệt về mức độ đánh giá giữa các nhóm đối tượng. Về phía cán bộ thuế, điều kiện cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật chỉ đạt mức khá (điểm trung bình 3,32 trên 5,00). Về phía người nộp thuế, quy trình đăng ký thuế và khai thuế điện tử được đánh giá tốt (đạt 3,82 điểm ở khối doanh nghiệp), nhưng công tác kiểm tra thuế và cưỡng chế hành chính chỉ dừng lại ở mức trung bình khá (3,18 điểm ở khối hộ kinh doanh cá thể).

Thứ tư, khi so sánh đối sánh với địa phương tương đồng như huyện Thanh Ba (tỉnh Phú Thọ) – nơi tổng thu ngân sách xã tăng bình quân 7,89% mỗi năm nhưng nguồn thu phụ thuộc trên 64% vào bổ sung cấp trên và 14,8% vào tiền đất năm 2021, huyện Đại Từ có mức độ tự chủ ngân sách khá hơn. Dù vậy, huyện vẫn bộc lộ lỗ hổng quản lý thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể không đăng ký kinh doanh chính thức.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ quan và khách quan đan xen. Về phía người nộp thuế, thói quen thanh toán tiền mặt và không lấy hóa đơn của người tiêu dùng tại các chợ truyền thống vùng nông thôn chiếm trên 70%, tạo kẽ hở cho các hộ kinh doanh giấu doanh thu để duy trì mức thuế khoán thấp. Động cơ tối đa hóa lợi nhuận khiến nhiều cơ sở kinh doanh tìm cách lách luật, trì hoãn nghĩa vụ nộp thuế. Về phía cơ quan quản lý, đội ngũ công chức thuế phải phụ trách địa bàn rộng lớn gồm 30 xã, thị trấn miền núi trong điều kiện trang thiết bị công nghệ thông tin chưa đồng bộ.

So sánh với kết quả tại huyện Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên), nơi thu ngân sách cân đối năm 2021 đạt 55,701 tỷ đồng (đạt 104,54% kế hoạch), có thể thấy quy mô nguồn thu của Đại Từ lớn hơn gấp 6 lần, song rủi ro nợ đọng thuế và thất thoát doanh thu khoán lại phức tạp hơn rất nhiều. Các dữ liệu này phản ánh rõ nét tính cấp thiết của việc chuyển đổi phương thức giám sát. Trong thực hành phân tích, số liệu thu ngân sách qua 3 năm (2019 - 2021) có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột chồng kết hợp đồ thị đường nhằm làm rõ sự tương phản giữa tăng trưởng số thu tiền đất và số thu thuế giá trị gia tăng thuần túy. Đồng thời, một bảng ma trận đối sánh điểm Likert giữa cán bộ thuế và người nộp thuế sẽ giúp chỉ rõ những quy trình hành chính đang gây nghẽn dòng thu để cơ quan chức năng ưu tiên cải cách.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện công tác lập, giao dự toán và xây dựng kế hoạch thu thuế giá trị gia tăng. Chi cục Thuế huyện Đại Từ cần phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch và Ủy ban nhân dân 30 xã, thị trấn rà soát toàn bộ cơ sở kinh tế, ứng dụng mô hình phân tích dữ liệu lịch sử nhằm kiểm soát sai số dự toán hàng năm dưới 5% trong giai đoạn 2022 - 2025.

Thứ hai, đẩy mạnh hiện đại hóa quy trình kê khai và nộp thuế điện tử. Mục tiêu đặt ra là duy trì tỷ lệ 100% doanh nghiệp và tối thiểu 90% hộ kinh doanh áp dụng phương pháp kê khai thực hiện khai thuế, nộp thuế qua mạng. Cơ quan thuế cần triển khai triệt để hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền cho các cơ sở bán lẻ, ăn uống tại 2 thị trấn và các chợ trung tâm trước quý IV năm 2023.

Thứ ba, tăng cường hiệu lực thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế thu hồi nợ thuế. Đội kiểm tra thuế cần xây dựng tiêu chí phân tích rủi ro định kỳ hàng quý, tập trung kiểm soát doanh nghiệp trong lĩnh vực khai khoáng, xây dựng cơ bản và chế biến chè; kiên quyết áp dụng các biện pháp trích tiền gửi ngân hàng, phong tỏa tài khoản hoặc ngừng sử dụng hóa đơn để hạ tỷ lệ nợ đọng thuế giá trị gia tăng xuống dưới 3% trên tổng thu.

Thứ tư, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cấp chất lượng công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế. Đơn vị cần tổ chức định kỳ 4 đợt tập huấn nghiệp vụ mỗi năm cho công chức thuế và ít nhất 2 hội nghị đối thoại trực tiếp với cộng đồng kinh doanh; đồng thời thiết lập cơ chế liên ngành giữa Thuế, Công an và Ban quản lý chợ để điều tra, giám sát doanh thu thực tế của 100% hộ kinh doanh cá thể.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị thực tiễn sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, lãnh đạo và công chức Chi cục Thuế huyện Đại Từ cùng Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng với hơn 130 trang tư liệu, báo cáo chi tiết, làm cơ sở khoa học để tái cơ cấu quy trình quản lý nợ, lập dự toán ngân sách và chống gian lận hóa đơn tại 30 đơn vị hành chính cấp xã.

Thứ hai, chính quyền địa phương huyện Đại Từ, bao gồm Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện và Hội đồng tư vấn thuế các xã, thị trấn. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để định hướng phân cấp nguồn thu, xây dựng chiến lược nuôi dưỡng nguồn thu bền vững và chấm dứt sự phụ thuộc quá mức vào đấu giá quyền sử dụng đất.

Thứ ba, các doanh nghiệp, hợp tác xã và hơn 1.000 hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện. Tài liệu giúp người nộp thuế hiểu rõ khung pháp lý, quyền lợi được giảm 2% thuế suất theo chính sách hỗ trợ của Nhà nước, cũng như các nghĩa vụ hóa đơn chứng từ nhằm phòng tránh rủi ro bị xử phạt hành chính từ 10% đến 20%.

Thứ tư, các giảng viên, học viên cao học và sinh viên khối ngành Kinh tế công, Quản lý kinh tế, Thuế và Quản trị kinh doanh. Luận văn đóng vai trò là một case study thực tế điển hình về phương pháp khảo sát sơ cấp, thiết kế thang đo Likert 5 mức độ và kỹ thuật phân tích chính sách thuế tại địa bàn miền núi.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng trực tiếp và phương pháp khấu trừ khác nhau như thế nào?

Phương pháp khấu trừ áp dụng cho doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ kế toán hóa đơn, xác định số thuế nộp bằng thuế đầu ra trừ thuế đầu vào với các mức thuế suất 0%, 5% hoặc 10%. Phương pháp trực tiếp áp dụng cho hộ, cá nhân kinh doanh hoặc cơ sở không đủ điều kiện kế toán, tính thuế theo tỷ lệ phần trăm từ 1% đến 5% trên doanh thu hoặc tính trực tiếp trên giá trị tăng thêm của hàng hóa.

Kết quả thu ngân sách huyện Đại Từ giai đoạn 2019 - 2021 đạt được con số cụ thể ra sao?

Năm 2021, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Đại Từ đạt 335.179 triệu đồng, vượt 46,2% dự toán tỉnh giao và vượt 42,8% dự toán huyện phê duyệt. Dù vậy, nếu loại trừ khoản thu từ đất thì số thu thực tế là 206.712 triệu đồng, phản ánh sự phục hồi sản xuất kinh doanh nhưng nguồn thu bền vững vẫn cần mở rộng thêm.

Thang đo Likert được sử dụng trong luận văn đánh giá những khía cạnh nào?

Thang đo Likert 5 mức độ (từ 1 điểm đến 5 điểm tương ứng 5 khoảng điểm đánh giá) được áp dụng để khảo sát 120 đối tượng, đo lường các khía cạnh: công tác lập dự toán, thủ tục kê khai nộp thuế điện tử, cơ sở vật chất kỹ thuật, tinh thần phục vụ của cán bộ thuế và tính minh bạch trong kiểm tra, xử lý vi phạm thuế.

Chính sách giảm thuế giá trị gia tăng theo Nghị định số 15/2022/NĐ-CP được quy định như thế nào?

Nghị định số 15/2022/NĐ-CP quy định giảm thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 8% đối với nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ từ ngày 01/02/2022. Đối với cơ sở kinh doanh tính thuế theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, mức tỷ lệ tính thuế được giảm 20% khi xuất hóa đơn, hỗ trợ đắc lực cho người nộp thuế phục hồi sau đại dịch.

Kinh nghiệm quản lý thu thuế từ huyện Thanh Ba mang lại bài học gì cho huyện Đại Từ?

Bài học từ huyện Thanh Ba (tỉnh Phú Thọ) cho thấy việc thu ngân sách dựa trên 64% từ ngân sách cấp trên bổ sung và 14,8% từ tiền sử dụng đất sẽ làm giảm tính chủ động tài khóa. Do đó, huyện Đại Từ cần tập trung bao quát nguồn thu từ hộ kinh doanh và hiện đại hóa công tác thu thuế qua ngân hàng để giảm thất thu.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế giá trị gia tăng tại cấp xã, thị trấn trên cơ sở Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14.
  • Đánh giá xác thực kết quả thu ngân sách huyện Đại Từ giai đoạn 2019 - 2021 với số thu năm 2021 đạt 335.179 triệu đồng, vượt 46,2% dự toán nhưng chỉ rõ sự thiếu ổn định do tỷ trọng tiền đất quá lớn.
  • Phát hiện các điểm nghẽn then chốt gồm: độ lệch dự toán trên 15%, hạ tầng công nghệ thông tin cấp cơ sở đạt 3,32 điểm Likert và hơn 70% giao dịch tiêu dùng nông thôn chưa sử dụng hóa đơn.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn với mục tiêu 100% doanh nghiệp kê khai điện tử, mở rộng hóa đơn máy tính tiền và kéo giảm nợ đọng thuế xuống dưới 3%.
  • Cung cấp mô hình khảo sát thực nghiệm 120 đối tượng có giá trị tham khảo cao cho công tác quản lý tài chính công tại 30 xã, thị trấn miền núi.

Trong giai đoạn 2022 - 2025, ngành thuế địa phương cần khẩn trương số hóa toàn diện quy trình quản lý, tăng cường đối thoại công khai với người dân và người nộp thuế. Cơ quan thuế cùng chính quyền cơ sở cần chủ động phối hợp để xây dựng môi trường thuế minh bạch, văn minh, đảm bảo huy động đầy đủ nguồn lực tài chính phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững.