CHƯƠNG 1 KHUNG NGHIÊN CỨU VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU CỦA CỤC THUẾ ĐỐI VỚI CÁC KHOẢN THU TỪ ĐẤT CỦA CÁC CHI CỤC THUẾ 1. Các khoản thu từ đất và thu các khoản thu từ đất của chi cục thuế 1. Các khoản thu từ đất Vũ Cương (2012) định nghĩa: “Thuế đất đai là một khoản phí tài chính bắt buộc áp dụng cho người sử dụng đất đai phải nộp cho chính phủ để tài trợ cho các khoản chi tiêu công khác nhau.” Đặng Văn Du (2017) đưa ra quan điểm: “Các khoản thu từ đất là việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất nộp tiền thuê đất hoặc tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước theo luật đất đai và các quy định hiện hành của Nhà nước. Việc thực hiện các khoản thu từ đất giúp bảo đảm việc chấp hành các chính sách pháp luật về quản lý thu, đảm bảo công bằng cho người dân và làm tăng ngân sách nhà nước đồng thời để người sử dụng đất có ý thức sử dụng đất, đưa đất vào phục vụ sản xuất kinh doanh tiết kiệm hiệu quả.
Khoản 1 Điều 107 Luật đất đai năm 2013 quy định các khoản thu tài chính từ đất đai bao gồm: - Tiền thuê đất khi được Nhà nước cho thuê; - Thuế sử dụng đất - Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; - Tiền thu từ việc xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai; - Tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai; - Phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai. Phân cấp thu và thu các khoản thu từ đất của chi cục 11 thuế 1. Phân cấp thu các khoản thu từ đất Các khoản thu từ đất được phân chia cho các cơ quan nhà nước phối hợp cùng thực hiện, trong đó cơ quan thuế là cơ quan làm việc trực tiếp với người sử dụng đất để ra quyết định thu. Tại cơ quan thuế các khoản thu từ đất sẽ được phân cấp thu, văn phòng Cục thuế phụ trách các tổ chức, doanh nghiệp lớn có vốn đầu tư ngoài quốc doanh v.
còn các chi cục thuế phụ trách cá nhân và các tổ chức, doanh nghiệp nhỏ còn lại. Vì vậy, chi cục thuế phụ trách thu tất cả các khoản thu phát sinh từ đất thuộc phân cấp của mình. Thu các khoản thu từ đất của chi cục thuế Theo Chính Phủ (2014), chi cục thuế có trách nhiệm thu các khoản thu sau đây từ đất: Khoản thu thứ nhất: Thu thuế đối với các hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở; Tổ chức kinh tế được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; Tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng (sau đây gọi tắt là đất nghĩa trang, nghĩa địa); Tổ chức kinh tế được giao đất để xây dựng công trình hỗn hợp cao tầng, trong đó có diện tích nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê. Khoản thu thứ hai: Tiền thuế phí mà cá nhân, tổ chức đang sử dụng đất được Nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở hoặc đất nghĩa trang, nghĩa địa trong các trường hợp sau: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp có nguồn gốc được giao không thu tiền sử dụng đất, nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển sang sử dụng làm đất ở hoặc đất nghĩa trang, nghĩa địa; Đất nông nghiệp có nguồn gốc được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, chuyển sang sử dụng làm đất ở hoặc đất nghĩa trang, nghĩa địa có thu tiền sử dụng đất; Đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) có nguồn gốc được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất chuyển sang sử dụng làm đất ở có thu tiền sử dụng đất; Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) có nguồn gốc được Nhà nước cho thuê đất nay chuyển sang sử dụng làm đất ở hoặc đất nghĩa trang, nghĩa địa đồng thời với việc chuyển từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất.
Khoản thu thứ ba: Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, đối tượng nộp thuế là cá nhân, tổ chức có thu nhập từ hoạt động chuyển quyền sử dụng đất phải 12 nộp thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất. Tùy thuộc vào chủ thể phải nộp thuế mà việc nộp thuế sẽ áp dụng theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân hoặc Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Khoản thu thứ tư: Phí và lệ phí trong quản lý và sử dụng đất đai, đối tượng nộp phí là các cá nhân, tổ chức sử sụng dịch vụ công liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai bao gồm: Phí đo đạc và lập bản đồ địa chính; Phí thẩm định cấp quyền sử dụng đất; Phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai; Lệ phí địa chính theo quy định. Ngoài ra còn các khoản thu như tiền thuê đất: Là khoản thu lệ phí do Chi cục thuế thực hiện đối với các cá nhân, tổ chức thuê mặt đất, mặt nước; Thuế sử dụng đất: Là tiền các cá nhân, tổ chức sử dụng đất phải nộp thuế sử dụng đất hàng năm theo quy định của pháp luật về thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Tiền bồi thường cho Nhà nước: Là tiền các cá nhân, tổ chức phải trả khi gây thiệt hại trong quản lý và sứ dụng đất đai.
Quản lý thu của cục thuế đối với các khoản thu từ đất của các chi cục thuế 1. Khái niệm quản lý thu của cục thuế đối với các khoản thu từ đất của các chi cục thuế Võ Hồng Phúc (2007) trong “ Giáo trình quản lý nhà nước” cho rằng “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất”. Quản lý của cục thuế đối với các chi cục thuế là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực và hoạt động của các chi cục thuế để giám sát và định hướng của cục thuế với vai trò là đơn vị chủ quản lên các hoạt động của chi cục thuế đạt được kết quả tốt nhất, trong đó bao gồm cả hoạt động thu các khoản thu từ đất của chi cục thuế. Quản lý thu là quá trình chủ thể sử dụng hệ thống các công cụ chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý hoạt động thu các khoản thu của các đơn vị cấp dưới để giám sát và định hướng nhằm đảm bảo tính công bằng, khuyến khích sản xuất kinh doanh.
Cục thuế cấp tỉnh phân cấp và quản lý hoạt động thu thuế đất đai của các chi cục thuế cấp huyện. Quản lý thu của Cục thuế đối với các khoản thu từ đất của các 13 chi cục thuế là hoạt động mang tính quyền lực của cục thuế, sử dụng các công cụ, chế tài pháp luật để thực hiện công tác quản lý hoạt động thu các khoản thu từ đất của các chi cục thuế trực thuộc để đạt được hiệu quả cao nhất. Có thể hiểu là quá trình cục thuế vận dụng các quy luật khách quan, sử dụng các phương pháp tác động đến các hoạt động thu các khoản thu từ đất của các chi cục thuế trực thuộc nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu từ đất. Hiện nay trong phạm vi nghiên cứu, luận văn sử dụng khái niệm quản lý thu của cục thuế đối với các khoản thu từ đất của các chi cục thuế: Là quá trình Cục thuế triển khai các nội dung xây dựng kế hoạch thu thuế, tổ chức thực hiện thu thuế và kiểm tra giám sát thu thuế… nhằm đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong các hoạt động thu các khoản thu từ đất của các chi cục thuế trực thuộc 1.
Mục tiêu và tiêu chí đánh giá của quản lý thu của Cục thuế đối với các khoản thu từ đất của các chi cục thuế 1. Mục tiêu quản lý thu của cục thuế đối với các khoản thu từ đất của các chi cục thuế Mục đích của quản lý thu của cục thuế đối với các khoản thu từ đất của các chi cục thuế là để công tác thu của chi cục thuế đối với các khoản thu từ đất đuợc hệ thống theo cách tốt nhất trong môi trường luôn biến động và nguồn lực vẫn còn hạn chế. Đây chính là căn cứ quan trọng nhất để tiến hành các tác động quản lý. Mục tiêu của quản lý thu của cục thuế đối với các khoản thu từ đất của các chi cục thuế bao gồm hai mục tiêu cơ bản sau: Thứ nhất, đảm bảo thu đúng, kịp thời và đầy đủ các khoản thu từ đất của các chi cục thuế: Nhằm điều hành linh hoạt, đảm bảo nguồn thu đúng quy định của pháp luật bảo đảm nguồn thu bổ sung vào ngân sách để thực hiện các nhu cầu chi tiêu, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Bên cạnh đó, việc quản lý các khoản thu từ đất còn đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả trong tổ chức quản lý các khoản thu từ đất, đảm bảo công tác quản lý thu thuế đất đuợc vận hành theo đúng quy định của Pháp luật, tránh các hiện tượng tiêu cực, đảm bảo thu đúng, thu đủ, tận thu đem lại lợi ích, sự phát triển cho các đối tượng nộp ngân sách phát triển qua đó nuôi dưỡng nguồn thu. Mục tiêu này được thể hiện trên số khoản thu từ đất của các chi cục thuế được thực hiện đầy đủ, kịp thời, chính xác trong năm và số khoản thu từ đất thu sai mục 14 đích, thu chậm và vi phạm nghiệp vụ của các chi cục thuế được cục thuế kiểm tra, phát hiện. Thứ hai, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân và chi cục thuế: Thông qua quản lý các khoản thu từ đất, cục thuế có những hoạt động giám sát, chỉ đạo các chi cục thuế thực hiện nghiệp vụ thu các khoản thu từ thuế đúng pháp luật, cũng như tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về nghĩa vụ nộp thuế đất đai của người dân.