Tổng quan nghiên cứu
Hạ tầng giao thông nông thôn giữ vai trò huyết mạch trong chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới bền vững. Huyện Lục Ngạn là địa bàn miền núi trọng điểm của tỉnh Bắc Giang với tổng quy mô dân số đạt 222.251 người, trong đó dân số khu vực nông thôn chiếm tới 96,53% tương ứng 214.547 người. Lực lượng lao động dồi dào với 144.463 người, chiếm 65% tổng dân số toàn huyện, song tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn ở mức áp đảo 96,59%. Với mật độ dân số bình quân 216 người/km2 phân bố trên 29 xã và 1 thị trấn, việc kết nối giao thông liên vùng đối mặt với nhiều rào cản địa hình phức tạp, tạo áp lực lớn lên hệ thống giao thông gồm 65 km đường quốc lộ (Quốc lộ 31 và Quốc lộ 279) cùng 24,7 km đường tỉnh (ĐT 290 và ĐT 289).
Vấn đề nghiên cứu cốt lõi tập trung vào việc đánh giá cơ chế quản lý, khả năng khơi thông và sử dụng các nguồn lực đầu tư phát triển giao thông nông thôn trên địa bàn cấp huyện. Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm hệ thống hóa cơ sở khoa học về quản lý thu hút vốn, khảo sát thực trạng huy động nguồn lực tài chính, vật lực và nhân lực giai đoạn 2017 - 2019, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư cho giai đoạn tiếp theo. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc tối ưu hóa tỷ trọng phân bổ ngân sách, gia tăng nguồn vốn huy động từ doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, giải quyết triệt để tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản từ mức 6,26 tỷ đồng năm 2017 xuống còn 0,11 tỷ đồng năm 2019, tạo đòn bẩy thúc đẩy lưu thông nông sản chủ lực của vùng kinh tế đồi rừng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển kinh tế cổ điển của Adam Smith, khẳng định giao thông vận tải là nhân tố then chốt mở rộng quy mô thị trường, kết nối các vùng nguyên liệu và kích thích năng lực sản xuất hàng hóa. Đồng thời, lý luận cất cánh của W.W. Rostow được vận dụng nhằm luận giải vai trò của cơ sở hạ tầng giao thông như điều kiện tiên quyết cho giai đoạn cất cánh kinh tế tại khu vực nông thôn đang chuyển đổi từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa tập trung.
Các khái niệm chính được làm rõ bao gồm: đầu tư xây dựng đường giao thông nông thôn là quá trình bỏ vốn dài hạn tạo lập tài sản cố định phục vụ lưu thông cấp huyện và cấp xã; quản lý hoạt động thu hút đầu tư là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý nhà nước nhằm quảng bá, hỗ trợ và huy động tối đa các nguồn lực tài chính, vật chất, công lao động; phân cấp quản lý đầu tư công là cơ chế trao quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình cho chính quyền cơ sở. Khung phân tích được tích hợp các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quyết định số 800/QĐ-TTg, Quyết định số 695/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Đề án số 06/ĐA-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang về cơ chế hỗ trợ 120 - 180 tấn xi măng/km đường kiên cố hóa.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu khoa học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê, niên giám kinh tế - xã hội, văn bản pháp lý và số liệu giải ngân của Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới huyện Lục Ngạn trong chu kỳ 3 năm từ 2017 đến 2019. Nguồn dữ liệu sơ cấp được điều tra thực địa trong năm 2019 tại 3 xã đại diện theo các tiểu vùng sinh thái: xã Biển Động (khu vực vùng thấp, thương mại phát triển), xã Biên Sơn (vùng đồi cây ăn quả tập trung) và xã Cấm Sơn (vùng cao, đặc biệt khó khăn).
Cỡ mẫu khảo sát được thực hiện có chủ đích trên toàn bộ 29 xã, thị trấn kết hợp lấy phiếu điều tra sâu tại 3 xã điểm với hàng trăm đối tượng tham gia bao gồm cán bộ quản lý cấp huyện, công chức địa chính - xây dựng xã, đại diện doanh nghiệp thi công và các nhóm hộ dân. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có mục đích giúp phản ánh trung thực sự phân hóa về năng lực tài chính và mức độ sẵn sàng hiến đất, góp công giữa các địa bàn. Việc lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích cơ cấu tỷ lệ, so sánh chuỗi thời gian và phương pháp chuyên gia là hoàn toàn phù hợp để bóc tách thực trạng huy động vốn, đánh giá tác động của chính sách hỗ trợ vật liệu và xác định các nút thắt trong khâu giải phóng mặt bằng.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, cơ cấu thu hút đầu tư xây dựng đường huyện và đường xã có sự chuyển dịch tích cực gắn liền với nỗ lực kiểm soát nợ đọng xây dựng cơ bản. Năm 2017, tổng chi phí xây dựng đường huyện đạt 15,03 tỷ đồng, trong đó ngân sách và vốn lồng ghép chiếm 72,06% (tương đương 10,83 tỷ đồng), vốn huy động doanh nghiệp đạt 2,74 tỷ đồng (chiếm 18,23%), nhưng số tiền còn nợ đọng lên tới 6,26 tỷ đồng. Đến năm 2019, tổng chi phí đạt 13,61 tỷ đồng với tỷ trọng ngân sách nhà nước tăng lên 84,72% (11,53 tỷ đồng), vốn doanh nghiệp đạt 1,97 tỷ đồng (14,47%), đặc biệt nợ đọng giảm mạnh 98,24% chỉ còn 0,11 tỷ đồng. Diện tích đất thu hồi phục vụ mở rộng đường huyện duy trì từ 708,03 m2 năm 2017 xuống 542,63 m2 năm 2019.
Thứ hai, hoạt động xã hội hóa xây dựng đường thôn, ngõ xóm khẳng định vai trò chủ đạo của người dân trong việc đóng góp nguồn lực phi tiền tệ. Giai đoạn 2017 - 2019, tổng vốn thực hiện đường thôn xóm toàn huyện đạt hơn 48,98 tỷ đồng, riêng năm 2017 đạt 21,03 tỷ đồng (ngân sách 52,68%, người dân đóng góp trực tiếp 28,63% tương ứng 6,02 tỷ đồng). Năm 2019, quy mô vốn đạt 14,03 tỷ đồng, vốn ngân sách chiếm 50,32% (7,06 tỷ đồng), vốn doanh nghiệp chiếm 21,67% (3,04 tỷ đồng) và vốn dân cư chiếm 21,60% (3,13 tỷ đồng). Đóng góp phi tiền tệ từ cộng đồng đạt quy mô rất lớn với 13.429 ngày công lao động năm 2017 và tăng lên 13.614 công năm 2019; diện tích đất hiến tặng đạt 1.684,91 m2 năm 2017 và 1.639,28 m2 năm 2019; giá trị vật liệu xây dựng phụ trợ quy đổi đạt từ 48,23 đến 51,72 triệu đồng mỗi năm.
Thứ ba, sự phân hóa rõ nét trong mô hình huy động vốn xây dựng đường xã và đường trục chính nội đồng tại các địa bàn điều tra. Tại xã Biển Động, hình thức đối tác công tư linh hoạt cho phép doanh nghiệp tự đầu tư xây dựng hạ tầng chạy qua trụ sở, nâng tỷ trọng đóng góp của khối tư nhân lên 43,04% năm 2017 và 34,85% năm 2019. Đối với đường nội đồng, nguồn vốn nhân dân đóng vai trò quyết định: tại Biển Động vốn dân cư đạt 0,91 tỷ đồng (gấp 5,35 lần vốn lồng ghép 0,17 tỷ đồng năm 2019) cùng 564 công lao động; tại Biên Sơn vốn dân đóng góp 0,73 tỷ đồng cùng 514 m2 đất; tại Cấm Sơn vốn dân đạt 0,52 tỷ đồng và 536 m2 đất.
Thứ tư, tác động lan tỏa từ cơ chế hỗ trợ xi măng theo Đề án số 06/ĐA-UBND của tỉnh (cấp 180 tấn/km làm mới và 120 - 160 tấn/km nâng cấp) đã tạo cú hích lớn, đạt tỷ lệ 100% người dân và doanh nghiệp đồng thuận, đánh giá chính sách là động lực cốt lõi giúp chuyển đổi phương thức đầu tư từ trông chờ sang chủ động tự làm.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân chính tạo nên bước chuyển biến tích cực trong giai đoạn 2017 - 2019 là việc chuyển đổi cơ chế quản lý từ áp đặt chỉ tiêu hành chính sang thực hiện dân chủ cơ sở theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Khi chính quyền tỉnh thay đổi chính sách từ hỗ trợ bao cấp toàn diện sang hình thức kích cầu bằng vật liệu chính (xi măng), tâm lý ỷ lại vào ngân sách trung ương đã được giải tỏa hoàn toàn.
So sánh với các nghiên cứu tương đồng tại các huyện miền núi phía Bắc, việc vận dụng hình thức đầu tư - sử dụng - chuyển giao tại xã Biển Động là điểm sáng sáng tạo, giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn thu ngân sách địa phương. Tuy nhiên, các hạn chế còn tồn tại bao gồm: tiến độ cấp phát vốn ngân sách còn chậm do thủ tục giải ngân phức tạp; giá đền bù giải phóng mặt bằng chưa bắt kịp biến động thị trường dẫn đến khó khăn khi thu hồi 1.502,38 m2 đến 1.684,91 m2 đất mỗi năm; tỷ lệ kiên cố hóa đường trục chính nội đồng vẫn thấp, phần lớn mới dừng lại ở đắp nền mở rộng nền đất.
Dữ liệu nghiên cứu thực tế có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ cột chồng trực quan hóa sự dịch chuyển cơ cấu nguồn vốn (Ngân sách - Doanh nghiệp - Người dân) và bảng cân đối nguồn lực phi tiền tệ (ngày công, diện tích đất hiến) tại từng phân nhóm xã, phản ánh rõ mức độ đồng thuận xã hội đối với từng cấp đường.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn và công khai minh bạch khung chính sách thu hút đầu tư. Ủy ban nhân dân huyện Lục Ngạn cần ban hành đồng bộ quy chế quản lý vốn đầu tư hạ tầng giao thông cơ sở ngay trong quý I hàng năm, cụ thể hóa các tiêu chuẩn kỹ thuật phân cấp đường theo Thông tư 32/2014/TT-BGTVT, đảm bảo 100% các xã công bố công khai quy hoạch và dự toán chi tiết các tuyến đường cần đầu tư trước 6 tháng khi triển khai thi công.
Thứ hai, đổi mới quy trình lập kế hoạch và đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn tài chính. Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện chủ trì phối hợp Phòng Tài chính - Kế hoạch xây dựng danh mục dự án ưu tiên trung hạn giai đoạn 2021 - 2025, phấn đấu nâng tỷ trọng vốn huy động từ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nông sản và chế biến trái cây lên trên 25% tổng cơ cấu vốn giao thông, thông qua cơ chế ưu đãi tiếp cận mặt bằng sản xuất và quảng bá thương hiệu.
Thứ ba, chuẩn hóa công tác tổ chức triển khai, giải phóng mặt bằng và huy động nguồn lực xã hội. Ủy ban nhân dân các xã và Ban quản lý thôn tăng cường công tác dân vận, áp dụng linh hoạt hình thức đổi đất nông nghiệp dồn điền đổi thửa hoặc hỗ trợ ngày công đối với các hộ nghèo tham gia lao động xây dựng đường giao thông, đặt mục tiêu duy trì tỷ lệ hiến đất đạt trên 1.500 m2/năm và trên 13.000 ngày công đóng góp tự nguyện mỗi năm.
Thứ tư, nâng cao hiệu lực kiểm tra, kiểm soát chi phí và phát huy vai trò giám sát cộng đồng. Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện cùng Kho bạc Nhà nước rút ngắn quy trình thẩm định hồ sơ thanh quyết toán xuống dưới 15 ngày làm việc, ngăn chặn 100% nguy cơ nợ đọng xây dựng cơ bản mới. Kiện toàn 100% Ban Giám sát đầu tư cộng đồng và Ban Thanh tra nhân dân tại 29 xã, thị trấn nhằm kiểm tra chặt chẽ chất lượng vật tư, độ dày mặt đường bê tông và quy trình bảo dưỡng công trình sau nghiệm thu.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và cấp huyện bao gồm Sở Giao thông vận tải, Ủy ban nhân dân huyện Lục Ngạn, các phòng chuyên môn (Kinh tế - Hạ tầng, Tài chính - Kế hoạch). Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn và bộ chỉ số theo dõi cơ cấu vốn để hoạch định kế hoạch phân bổ ngân sách, hoàn thiện đề án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn giai đoạn mới.
Nhóm thứ hai, chính quyền cấp xã và Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới tại các địa phương miền núi. Luận văn cung cấp mô hình thực tiễn về cơ chế huy động đóng góp tự nguyện, kỹ năng điều hành giải phóng mặt bằng, vận động hiến đất và quản lý sử dụng nguồn xi măng hỗ trợ đạt hiệu suất tối ưu.
Nhóm thứ ba, các viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản trị kinh tế, Quản lý công, Kinh tế phát triển. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận đánh giá chính sách đầu tư công cấp cơ sở, phân tích định lượng về sự tham gia của các bên liên quan (Nhà nước - Doanh nghiệp - Người dân).
Nhóm thứ tư, các doanh nghiệp xây dựng hạ tầng giao thông và tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư. Doanh nghiệp có thể tìm thấy cơ hội tham gia các phương thức hợp tác công - tư cấp cơ sở, trong khi cộng đồng dân cư nắm bắt được quyền lợi, trách nhiệm và quy trình thực hiện giám sát chất lượng công trình nông thôn mới.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận văn đã giải quyết nút thắt lớn nhất nào trong quản lý thu hút đầu tư giao thông nông thôn tại Lục Ngạn?
Đề tài đã chỉ rõ và giải quyết bài toán mất cân đối tài chính và nợ đọng xây dựng cơ bản kéo dài. Nhờ đề xuất tối ưu hóa cơ cấu vốn lồng ghép và thực hiện cơ chế hỗ trợ xi măng kích cầu, nợ đọng tại các tuyến đường huyện đã giảm từ 6,26 tỷ đồng năm 2017 xuống còn 0,11 tỷ đồng năm 2019.
-
Chính sách hỗ trợ xi măng của tỉnh Bắc Giang đem lại hiệu ứng đột phá ra sao tại địa phương?
Chính sách hỗ trợ 180 tấn xi măng/km làm mới và 120 - 160 tấn/km nâng cấp theo Đề án số 06/ĐA-UBND đã xóa bỏ hoàn toàn tâm lý ỷ lại vào bao cấp toàn diện, tạo động lực để 100% người dân và doanh nghiệp được khảo sát sẵn sàng đóng góp tiền mặt, cát sỏi và hàng nghìn ngày công lao động.
-
Người dân tại huyện Lục Ngạn tham gia đóng góp các nguồn lực phi tiền tệ cụ thể như thế nào?
Cộng đồng dân cư đã trực tiếp đóng góp thông qua 3 hình thức chủ yếu: hiến đất làm đường với quy mô trên 1.600 m2 mỗi năm, đóng góp từ 13.429 đến 13.614 ngày công lao động/năm và hỗ trợ vật tư phụ trị giá trên 50 triệu đồng/năm, giúp giảm áp lực trực tiếp lên nguồn vốn tiền mặt của ngân sách.
-
Vì sao công tác giải phóng mặt bằng đường giao thông nông thôn tại vùng miền núi vẫn gặp nhiều trở ngại?
Trở ngại xuất phát từ biến động giá đất thị trường, định mức đền bù còn khoảng cách với kỳ vọng của một bộ phận người dân và tình trạng lấn chiếm hành lang đường cũ chưa được xử lý dứt điểm, đòi hỏi chính quyền phải tăng cường công tác dân vận và thực hiện đền bù công khai, công bằng.
-
Doanh nghiệp trên địa bàn có thể tham gia đầu tư đường giao thông nông thôn theo hình thức nào hiệu quả nhất?
Mô hình đầu tư - sử dụng - chuyển giao áp dụng thành công tại xã Biển Động là minh chứng điển hình: doanh nghiệp tự bỏ vốn xây dựng, cải tạo các tuyến đường kết nối trực tiếp đến trụ sở và vùng nguyên liệu sản xuất, vừa giảm gánh nặng cho ngân sách xã vừa phục vụ trực tiếp chuỗi logistics của doanh nghiệp.
Kết luận
- Luận văn đã chuẩn hóa hệ thống lý luận và khung chính sách về quản lý hoạt động thu hút đầu tư phát triển giao thông nông thôn áp dụng cho địa bàn cấp huyện miền núi.
- Thực trạng giai đoạn 2017 - 2019 khẳng định tính đúng đắn của việc chuyển đổi cơ cấu vốn, kéo giảm tỷ lệ nợ đọng xây dựng cơ bản đường huyện xuống mức tối thiểu 0,11 tỷ đồng.
- Phát huy mạnh mẽ sức mạnh nội lực cộng đồng với hơn 13.600 công lao động và trên 1.600 m2 đất hiến tặng mỗi năm, tạo đột phá trong phong trào kiên cố hóa đường thôn xóm và nội đồng.
- Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm hoàn thiện cơ chế, đa dạng hóa vốn doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả giải phóng mặt bằng và siết chặt kỷ luật giải ngân.
- Định hướng lộ trình triển khai giai đoạn 2021 - 2025 cần nhanh chóng số hóa dữ liệu quy hoạch, mở rộng mạng lưới đường giao thông kết nối vùng cây ăn quả chủ lực, kêu gọi các cấp chính quyền và nhà khoa học tiếp tục ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn quản lý hạ tầng nông thôn.