Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về BHXH Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý thu BHXH của BHXH Việt Nam giai đoạn 2013-2017. Chương 4: Quan điểm, định hƣớng và các giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXH của BHXH Việt Nam trong thời gian tới. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ BHXH 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Sau hơn 20 năm thành lập, từ năm 1995 đến nay hệ thống BHXH Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong ngành và ngoài ngành, từ đề tài cấp Bộ, luận văn thạc sỹ, luận văn tiến sỹ đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung, cũng nhƣ từng lĩnh vực cụ thể về BHXH, nhƣng về công tác quản lý thu BHXH của BHXH Việt Nam còn rất hạn chế. Có thể nói tới các công trình nhƣ: - Đề tài “Thực trạng quản lý thu Bảo hiểm xã hội hiện nay và các bịên pháp nâng cao hiệu quả công tác thu”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ do Tiến sỹ Nguyễn Văn Châu làm chủ nhiệm đề tài bảo vệ năm 1996. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thu BHXH của một số nƣớc trên thế giới và tổng kết hoạt động thực tiễn của quản lý thu BHXH ở Việt Nam trƣớc năm 1995 và giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017, tác giả làm rõ thực trạng hoạt động BHXH, đặc biệt là công tác quản lý thu BHXH trong thời gian qua, nhằm phân tích khả năng thu BHXH để bù đắp các chế độ BHXH đƣợc hƣởng nhằm thay thế dần các nguồn chi lấy từ Ngân sách Nhà nƣớc, đồng thời đề xuất kiến nghị một số vấn đề cụ thể nhằm cải tiến công tác quản lý thu BHXH của BHXH Việt Nam. - Đề tài “Cơ sở khoa học hoàn thiện quy trình quản lý thu BHXH” đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Tiến sỹ Dƣơng Xuân Triệu, Chủ nhiệm, bảo vệ năm 1999.
- Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2000: “ Hoàn thiện quản lý thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam” của tác giả Trần Quốc Túy, Ban Tuyên truyền thuộc BHXH Việt Nam. Đề tài nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh từ năm 1995 đến năm 2000; làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu BHXH khu vực này; thực trạng và giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhìn chung các công trình, bài viết trên, dƣới những góc độ tiếp cận khác nhau đã đề cập đến công tác thu BHXH. Nhƣng đến nay chƣa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể về công tác quản lý thu BHXH của BHXH Việt Nam một cách có hệ thống dƣới dạng lụân văn khoa học.
Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý thu bảo hiểm xã hội của Bảo hiểm xã hội Việt Nam” là cần thiết và không có sự trùng lặp nào với công trình đã nghiên cứu. BHXH và vai trò của nó trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Trong hoạt động của đời sống xã hội cũng nhƣ trong hoạt động sản xuất kinh doanh con ngƣời luôn luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra do rất nhiều nguyên nhân nhƣ: thiên tai (bão lụt, động đất, hạn hán, hỏa hoạn.), tai nạn giao thông (máy bay, tàu thủy, tàu hỏa, ô tô, xe máy.), tai nạn trong lao động sản xuất, ốm đau, dịch bệnh. Những bất trắc, rủi ro đó đã gây ra và đem đến cho con ngƣời những tổn thất to lớn cả về mặt kinh tế, lẫn môi trƣờng sinh thái và môi trƣờng xã hội.
Mặt khác trong cuộc sống con ngƣời luôn phấn đấu cho an sinh hạnh phúc, nhƣng theo quy luật của tạo hoá con ngƣời ta đƣợc sinh ra, đƣợc nuôi dƣỡng đến lúc trƣởng thành; lao động cống hiến sức lực, trí tuệ cho xã hội, cho gia đình; tiếp đến là giai đoạn hết tuổi lao động đƣợc xã hội, gia đình và lớp ngƣời tiếp theo chăm sóc cho đến khi chết. Nhƣ vậy là trong toàn bộ cuộc đời, con ngƣời không phải lúc nào cũng có đủ sức khỏe và cơ hội lao động để có thu nhập. Trong khi đó con ngƣời luôn cần phải có những nhu cầu sinh hoạt về vật chất và tinh thần. Vì vậy, mỗi NLĐ và xã hội cần thiết phải có một nguồn lực tài chính dự trữ để kịp thời cung cấp đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần không những cho bản thân mình, mà còn cho cả những ngƣời mình phải trực tiếp nuôi dƣỡng và cho những ngƣời gặp phải những biến cố rủi ro trong đời sống xã hộị.
Nhƣng dù cá nhân có chủ động và dự phòng những rủi ro khi xảy ra thì cũng không thể nào tự lo liệu cho cuộc sống của mình. Vì vậy, cần phải có biện pháp khắc phục tổng thể và lâu dài mang tính cộng đồng xã hội, do đó ngoài dự phòng cá nhân, còn cần có dự phòng của cộng đồng. Để khắc phục những diễn biến bất thƣờng của quy luật, ổn định đời sống con 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời, làm cho xã hội không ngừng phát triển. BHXH nhƣ là một phát kiến văn minh của nhân loại để giữ gìn, bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ cho con ngƣời.
Bảo hiểm là chế độ bồi thƣờng kinh tế, chia nhỏ rủi ro, tổn thất của một ngƣời hay một số ít ngƣời cho nhiều ngƣời có cùng khả năng xảy ra rủi ro, tổn thất nào đó, theo những nguyên tắc, chuẩn mực đƣợc thống nhất và quy định trong khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia. Bảo hiểm không những đảm bảo cho ngƣời tham gia về kinh tế mà còn góp phần ổn định xã hội. Mục đích của bảo hiểm là góp phần làm ổn định, an toàn kinh tế cho mọi ngƣời, mọi tổ chức và mọi đơn vị có tham gia bảo hiểm, đảm bảo an toàn xã hội; đồng thời tạo ra nguồn vốn quan trọng để tham gia đầu tƣ phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Trên thế giới, BHXH ra đời cách đây hàng trăm năm và trở thành giải pháp hữu hiệu giúp con ngƣời vƣợt qua những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống và trong quá trình lao động.
BHXH trở thành nền tảng cơ bản của hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, đƣợc thực hiện ở hầu hết các nƣớc trên thế giới và ngày càng phát triển. Để đảm bảo quyền lợi cơ bản cho NLĐ trên toàn thế giới và an toàn xã hội, ILO ban hành Công ƣớc số 102 ngày 04/6/1952 về quy phạm tối thiểu an toàn xã hội, có quy định 09 chế độ trợ cấp gồm: chế độ chăm sóc y tế; chế độ trợ cấp TNLĐ-BNN; chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp thất nghiệp; chế độ trợ cấp tàn tật; chế độ trợ cấp tuổi già; chế độ trợ cấp tiền tuất và chế độ trợ cấp gia đình. Ở nƣớc ta, BHXH đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm ngay từ khi bôn ba tìm đƣờng cứu nƣớc đến trƣớc lúc đi xa, Ngƣời đã nhiều lần đề cập đến cụm từ "Bảo hiểm xã hội" và khẳng định bảo hiểm xã hội là một chính sách cơ bản đối với NLĐ. Trong bài báo cáo về những Nghị quyết của Trung ƣơng Đảng Cộng sản Đông Dƣơng về phong trào nông dân viết cuối năm 1930, Ngƣời chỉ rõ trong đấu tranh của nông dân, đặc biệt "đòi bảo hiểm xã hội, ngày nghỉ đƣợc trả công" [22, tr.
Năm 1941, khi về nƣớc, trong 10 chính sách của Việt Nam, thì chính sách BHXH đƣợc Ngƣời đề cập khá toàn diện, với việc ký hàng loạt Sắc lệnh: số 54 (03/11/1945) quy định điều kiện về hƣu cho công chức các ngạch; số 58 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (10/11/1945) về việc nghỉ gia hạn không lƣơng cho công chức tất cả các ngạch; số 74 (17/12/1945) quy định chế độ hƣu cho các nhân viên, công chức mắc bệnh lao, bệnh phong phải nghỉ việc dài ngày. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về BHXH đã đƣợc thể hiện trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959. Điều 32 Hiến pháp 1959 quy định: "NLĐ đƣợc giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động. Nhà nƣớc mở rộng dần các tổ chức bảo hiểm xã hội, cứu tế và y tế để đảm bảo cho mọi ngƣời đƣợc hƣởng quyền đó".
Từ năm 1995, cơ chế quản lý BHXH đƣợc đổi mới toàn diện bằng việc Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH, đặc biệt Luật BHXH đƣợc Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007. Khi chƣa có Luật BHXH, khái niệm về BHXH đƣợc tiếp cận dƣới những góc độ khác nhau: - Dƣới góc độ chính sách: BHXH là một chính sách xã hội, nhằm giải quyết các chế độ xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo NLĐ và bảo vệ sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia. - Dƣới góc độ quản lý: BHXH là công cụ quản lý của Nhà nƣớc để điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa NLĐ, ngƣời sử dụng lao động và Nhà nƣớc; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội. - Dƣới góc độ tài chính: BHXH là một quỹ tài chính tập trung, đƣợc hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nƣớc.
- Dƣới góc độ thu nhập: BHXH là sự bảo đảm thay thế một phần thu nhập khi NLĐ có tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập.