Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông. Chương 2: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học phổ thông thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Chương 3: Đề xuất một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học phổ thông thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Thiết bị và đồ dùng dạy học là phương tiện vật chất để phục vụ quá trình đổi mới phương pháp dạy học, giúp cho giáo viên và học sinh thực hiện có hiệu quả mục tiêu dạy và học. TBDH cũng tạo điều kiện trực tiếp cho học sinh phát huy tính chủ động, phát triển năng lực sáng tạo trong tiếp thu kiến thức, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Khi kinh tế, xã hội, giáo dục càng phát triển thì TBDH càng đa dạng, phong phú, nhiều chủng loại, thì vấn đề đặt ra làm sao quản lý TBDH có hiệu quả. Đây cũng là nhiệm vụ nặng nề của các cấp quản lý giáo dục, trực tiếp là các CBQL các cơ sở giáo dục.
Do đó, vấn đề công tác quản lý TBDH đã được nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu. Ở nước ngoài Jan Amot Komensky (1592- 1670) nhà giáo dục Cộng hoà Séc được coi là một trong những ông tổ sư phạm ở Châu Âu và thế giới. Ông chủ trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với sự vật trong đời sống hàng ngày. Theo ông: “…Việc dạy học phải bằng sự vật, hiện tượng.
Vì sự vật là thân thể, lời nói là cái ảo…lời nói mà không có sự vật là vỏ không có nhân, bao không có kiếm, bóng không có hình, thân không có hồn.” [22] Về sau trường phái giáo dục Xô – Viết cũng có các nhà giáo dục như K.Pestalossi người Thụy Sĩ đã phát triển quan điểm dạy học trực quan để đạt hiệu quả cao. Nội dung của quan điểm dạy học trực quan này là thay lối dạy học cũ, kinh viện, nhồi nhét tri thức 7 bằng lối dạy học mới có căn cứ khoa học, thông qua các sự vật hoặc hình ảnh của chúng và được học viên chứng thực trên cơ sở cảm nhận của các giác quan.Mác, yếu tố quyết định trình độ hoạt động không phải là tạo ra cái gì, mà là tạo ra cái đó bằng cách nào và bằng phương tiện nào. Theo nhà giáo dục học, viện sĩ Xukhômlinxki: “Nghệ thuật giáo dục là chỗ không chỉ giáo dục bằng các quan hệ giữa người với người, bằng gương sáng và lời nói của nhà giáo dục, bằng những truyền thống được trân trọng giữ gìn trong tổ chức mà còn giáo dục bằng các đồ vật, những của cải vật chất và tinh thần, giáo dục bằng môi trường và cảnh trí do chính học sinh xây dựng nên, đó là cách làm phong phú cuộc sống tâm hồn của học sinh”. [7] Tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO (Evaluation Rating criteria for the VTE Institution, ADB/ILO – Bangkok 1997) đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm đánh giá cơ sở giáo dục – đào tạo để kiểm định các nước thuộc tiểu vùng sông Mêkông.
Trong đó các điều kiện cơ sở hạ tầng của nhà trường: khuôn viên, cơ sở vật chất – kỹ thuật và thư viện chiếm 125/500 tổng điểm chung. Country Report on Quality Assurrance in Higher Education, Bangkok – Thailand, 1998, đưa ra tỉ lệ đánh giá các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục của Malaysia với 6 chỉ số trong đó các điều kiện đảm bảo cơ sở vật chất – kỹ thuật cho công tác đào tạo chiếm 20% tổng điểm đánh giá chung. Ở trong nước Lê Thanh Giang với đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên trường trung học phổ thông tỉnh Cà Mau” [12], qua đề tài tác giả đã khảo sát và phân tích thực trạng quản lý và sử dụng TBDH ở một số trường THPT tỉnh Cà Mau, từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý việc sử dụng TBDH của giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở các trường THPT tỉnh Cà Mau. 8 Trần Duy Hân với đề tài: “Biện pháp quản lý phương tiện dạy học của Hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn thành phố Huế đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay”[14], tác giả đã nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng việc quản lý phương tiện dạy học của Hiệu trưởng, xác lập các biện pháp quản lý phương tiện dạy học có hiệu quả của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Huế, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay.
Đặng Phúc Tịnh với đề tài: “Thực trạng và một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ” [27], tác giả đã khảo sát và phân tích thực trạng quản lý TBDH ở các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý TBDH nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của các trường THCS tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Trần Đức Hùng với đề tài: “Biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học phổ thông tỉnh Quãng Ngãi trong giai đoạn hiện nay” [17], tác giả đã nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng việc quản lý TBDH ở các trường THPT tỉnh Quảng Ngãi. Đồng thời tác giả đã đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở các trường THPT tỉnh Quảng Ngãi.
Trong giáo trình: “Lý luận dạy học ở trường THCS” [2] do Nguyễn Ngọc Bảo và Trần Kiểm viết đã dành một chương (chương 5) để viết về phương tiện dạy học. Theo tác giả, phương tiện dạy học có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng phương pháp dạy học. Bên cạnh việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, hiện nay các trường THCS đã được trang bị nhiều phương tiện dạy học. Vì vậy GV cần phải nắm được khái niệm phương tiện dạy học, các loại phương tiện dạy học, cách sử dụng, bảo quản từng loại phương tiện dạy học, đặc biệt là phương tiện dạy học kỹ thuật.
9 Trong cuốn: “Quản lý giáo dục” [15] do Bùi Minh Hiền chủ biên, ở chương 10 tác giả đã đề cập đến vai trò của TBDH trong sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại các nhóm TBDH mà người quản lý cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc cùng giải pháp quản lý TBDH ở trường học trong giai đoạn hiện nay. Giáo trình “Nghiệp vụ quản lý trường phổ thông”, tập 3 [32] của trường Cán bộ quản lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh, các tác giả đã nêu những vấn đề chung về CSVC-TBDH và công tác quản lý về CSVC-TBDH. Đây là những nội dung giúp người Hiệu trưởng có thể áp dụng trong công tác quản lý CSVC và TBDH ở trường của mình. Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu của các tác giả nêu trên và các giáo trình về lý luận dạy học đã làm sáng tỏ lý luận về TBDH.
Tuy vậy, trong các hướng nghiên cứu trên, lĩnh vực nghiên cứu quản lý TBDH trong quá trình dạy học nói chung và trong các trường THPT thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nói riêng chưa được nghiên cứu đầy đủ. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm Từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng được hình thành như một tất yếu khách quan. Trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào các nỗ lực của cá nhân, của tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng hơn ở tầm quốc gia, đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào đó của chính con người.
Khái niệm quản lý là một khái niệm rất quan trọng, phong phú và có nhiều dấu hiệu đặc trưng, có nhiều đối tượng. Đồng thời nó cũng thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, bởi vậy không có khái niệm quản lý chung nào cho mọi lĩnh vực. Chúng ta có thể nêu một số khái niệm quản lý như sau: 10 F.W Taylor cho rằng: Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.Koontz thì khẳng định: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất.12] Các Mác viết: “Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.12] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo và tập thể tác giả thì cho rằng: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung”.176] Tuy trình bày khác nhau, song các khái niệm trên đã vạch rõ bản chất hoạt động quản lý, đó là: Cách thức tổ chức, điều khiển (cách thức tác động) của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu chung của tổ chức đã đề ra.
Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý rất đa dạng và phong phú, nhưng trong các mối quan hệ đó thì cần quan tâm nhất là mối quan hệ giữa con người với con người và coi đó là cốt lõi của hoạt động quản lý. Đó là mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ với nhau tạo thành một hệ gọi là quản lý. Từ những ý chung của các định nghĩa và xét bản chất hoạt động quản lý chúng tôi đồng ý với khái niệm về quản lý của tác giả Bùi Minh Hiền: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”. Các chức năng của quản lý * Chức năng kế hoạch hóa 11 Nhiệm vụ cốt yếu của người quản lý là làm thế nào để mọi người biết nhiệm vụ của mình, biết phương pháp hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của tổ chức.
Đấy là chức năng kế hoạch hóa của nhà quản lý.