Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THI ĐUA, KHEN THƯỞNG 1. Thi đua, khen thưởng và pháp luật về thi đua, khen thưởng 1. Thi đua, khen thưởng 1. Khái niệm thi đua, khen thưởng - Khái niệm thi đua Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, thi đua được hiểu là “cùng nhau đem hết tài năng, sức lực ra làm nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất trong chiến đấu, sản xuất, công tác hoặc học tập” [17, tr.
Theo quan điểm trên có thể thấy thi đua là một hoạt động được tiến hành từ hai người trở lên, có tác động tích cực, cùng thúc đẩy nhau phát triển, đạt thành tích cao nhất trong mọi hoạt động. Thi đua được triển khai trong mọi hoạt động, trong mọi môi trường. Thi đua là mọi người khi cùng tham gia vào một hoạt động cùng nhau đem hết tài năng, sở trường, sức lực ra làm, qua đó cùng thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất trong chiến đấu, sản xuất, công tác, học tập. Điều này cũng cho thấy, về nội hàm, mục đích của thi đua khác với cạnh tranh, tuy rằng cả hai đều thúc đẩy hoạt động của con người.
Nhưng khác với thi đua, cạnh tranh là ý thức và hành động cố gắng mang lại thế thắng về mình trong một lĩnh vực hoạt động nhất định và hầu như thiếu đi sự hợp tác để làm việc. Cạnh tranh đẩy hai bên vào thế đối đầu là chủ yếu. Trong khi đó, thi đua là cùng nhau - cho thấy sự đoàn kết, hợp tác để cùng đem hết tài năng, sức lực thúc đẩy lẫn nhau đạt những thành tích tốt nhất trong quá trình thực hiện công việc chung. 18 Theo Điều 3 Luật thi đua, khen thưởng năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2005, 2013), “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Theo quan điểm này, thi đua cũng được nhấn mạnh đó là một loại hoạt động có tổ chức, có sự tham gia tự nguyện của cá nhân và tập thể. Ở đây, mọi người tự nguyện tham gia thi đua mà không có sự bắt buộc. Mục tiêu của thi đua là khuyến khích mọi người cố gắng phấn đấu để đạt thành tích tốt nhất không chỉ liên quan hoạt động cá nhân mà còn đóng góp vào quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc nói chung. Bản chất của thi đua đã được đề cập từ rất lâu.
Các Mác - một nhà triết học vĩ đại, người đầu tiên đã nghiên cứu một cách khoa học về bản chất và nội dung của thi đua. Thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, khi con người phối, kết hợp với nhau đã tạo nên thi đua và chính thi đua đã tạo ra sức mạnh to lớn, không chỉ làm gia tăng về mặt nghị lực riêng của từng người mà còn tạo nên sức mạnh to lớn của một tập thể. Có thể nói, thi đua là quy luật tất yếu, là một hiện tượng khách quan của xã hội, nảy sinh trong trong quá trình hợp tác lao động của con người. Lênin sau đó đã kế thừa các quan điểm của Các-Mác về thi đua và từ đó đưa ra những quan điểm, tư tưởng cơ bản của mình về thi đua trong xã hội chủ nghĩa.
Bản chất của thi đua đó là phong trào tự nguyện nhằm góp phần giải quyết những khó khăn, xây dựng xã hội mới của quần chúng nhân dân lao động. Thừa kế quan điểm của các nhà lãnh tụ vĩ đại đi trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng quan điểm thi đua lên một tầm cao mới, xem thi đua là biểu hiện của lòng yêu nước. Thi đua không chỉ đơn thuần là đạt được mục đích của mỗi cá nhân mà mục đích của cộng đồng và xã hội cũng đạt được nhờ 19 lồng ghép trong chính phong trào thi đua. Thi đua thực ra là thực hiện trong công việc hàng ngày.
Thông qua các quan điểm trên, một lần nữa có thể khẳng định thi đua là một hiện tượng khách quan của xã hội, là quy luật phát triển tất yếu của con người trong quá trình hợp tác lao động, có hợp tác lao động thì có nảy sinh ra thi đua. Có hai nguyên tắc thi đua đó là: (1) Tự nguyện, tự giác, công khai; (2) Đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển. Thi đua là một hoạt động có tổ chức dựa trên nguyên tắc tự nguyện, đây cũng là một trong những đặc điểm cơ bản của thi đua. Nội dung của thi đua xuất phát từ nguyên tắc cơ bản này, và khi xét tặng danh hiệu thi đua phải dựa vào phong trào thi đua, dựa vào việc cá nhân tập thể đăng ký tham gia thi đua, thành tích thi đua đạt được và dựa vào các tiêu chuẩn của danh hiệu thi đua theo quy định của pháp luật.
Trong hai nguyên tắc trên thì nguyên tắc thứ hai được xác định là nguyên tắc quan trọng hơn. Thông qua thi đua cũng là một trong những giải pháp nhằm hoàn thiện về nhân cách của con người, phát huy tinh thần hợp tác, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ và phát triển. Theo điều 5, Luật Thi đua, khen thưởng năm 2003 (sửa đổi, bổ sung 2005, 2013) thì “mục tiêu của thi đua nhằm tạo động lực động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Tuy nhiên, để phát huy vai trò, mục tiêu tốt đẹp của thi đua thì cần tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, tự giác, công khai, minh bạch; đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển.
- Khái niệm khen thưởng Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, “khen thưởng nghĩa là khen và thưởng một cách chính thức (nói một cách khái quát)”. Trong đó, “khen là nói lên sự đánh giá tốt về ai về cái gì việc gì với ý vừa lòng. Thưởng 20 có nghĩa là cho tiền, hiện vật,. để tỏ ý khen ngợi và khuyến khích vì đã có công, có việc làm tốt” [17, tr.
Như vậy, điều này có nghĩa thưởng chỉ dành cho những người đã có công, đã có những thành tích nhất định để nhằm khuyến khích, động viên cho ai đó. Thưởng có thể dưới hình thức bằng tiền hoặc hiện vật hoặc các hình thức khác. Thưởng cũng đối lập với nghĩa là trừng phạt. Trong quan niệm về khen thưởng có hai yếu tố cơ bản là thành tích và khen thưởng.
Nếu người có thành tích được khen thưởng thì sẽ kích thích hoạt động của chính họ và người khác. Trường hợp ngược lại có thể làm hạn chế hay thui chột động lực làm việc nói chung, từ đó, hoạt động chung của mọi người bị giảm hiệu quả. Thực ra khái niệm khen thưởng không chỉ mới được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật gần đây mà cách đây hơn 600 năm thì Nguyễn Trãi đã đề cập đến các hình thức thưởng phạt nhằm mục đích xây dựng một nhà nước vững mạnh. Sau này, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã thừa kế về tư tưởng trên.
Có thể thấy khen thưởng là một vấn đề thuộc phạm trù khoa học xã hội, cũng là vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển và tồn tại song hành với việc trừng phạt. Trong bối cảnh hiện nay, nó được xem như một trong những hình thức tạo động lực quan trọng cho người lao động trong tổ chức, hình thức khuyến khích những cá nhân có nhiều nỗ lực đóng góp cho sự phát triển của cơ quan, đơn vị… và xã hội nói chung. Khen thưởng nhằm hướng tới mục đích cơ bản là khích lệ, tạo động lực cho mọi người hăng say tham gia vào các hoạt động, khiến cho họ gắn kết hài hòa mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức, qua đó giúp cho mỗi cá nhân, tập thể phát huy tính tích cực và sáng tạo trong học tập, lao động, chiến đấu, sản xuất. Mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng 21 Thi đua và khen thưởng có mối quan hệ biện chứng.
Thi đua được xem là cơ sở của khen thưởng, còn khen thưởng lại là kết quả của thi đua. Thi đua là quá trình, khen thưởng là kết quả. Nếu không có thi đua thì sẽ không có cơ sở, không có căn cứ để đánh giá thành tích, công trạng của cá nhân cũng như của tập thể. Do vậy, việc khen thưởng không thể chính xác, công bằng được.
Ngược lại, nếu như không có khen thưởng thì cũng không có động lực để triển khai thành công các phong trào thi đua một cách hiệu quả. Điều này hoàn toàn chính xác cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Do vậy, chúng ta không được coi nhẹ khen thưởng trong thi đua. Thi đua là cơ sở của việc khen thưởng.
Điều này đòi hòi thi đua phải thực chất, bình bầu phải công khai, chặt chẽ, đúng đối tượng. Làm được như vậy sẽ giúp cho việc khen thưởng được chính xác, công tâm, khen thưởng đúng người, đúng công trạng, đúng thành tích. Ngược lại, để khuyến khích các phong trào thi đua lan tỏa mạnh mẽ thì khen thưởng cũng phải thực chất, tránh trường hợp khen thưởng một cách tràn lan, không đúng đối tượng, không tương xứng với thành tích thi đua. Bởi vì hai mặt này gắn bó chặt chẽ với nhau.
Tuy nhiên, trong thực tiễn chúng ta cũng không nên hiểu rằng thi đua và phong trào thi đua được tổ chức chỉ vì mục đích khen thưởng, và bằng mọi cách phải đạt được mục đích là được khen thưởng. Nếu thi đua chỉ chăm chăm vào mục đích cuối cùng là được khen thưởng thì mục đích của thi đua sẽ dễ bị hiểu méo mó, lệch lạc. Điều quan trọng chúng ta phải khẳng định là: khen thưởng chỉ là sự khuyến khích, động viên tinh thần đối với những thành tích của cá nhân, tập thể qua quá trình phấn đấu trong hoạt động lao động, học tập, chiến đấu, … trong thực tiễn. Đó là một phương thức tạo động lực đối với mỗi cá nhân và tập thể, cũng là sự công bằng của tổ chức dành cho những cá 22 nhân ưu tú, tích cực, năng động, sáng tạo và có nhiều đóng góp cho tổ chức, cho xã hội.