Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG NGÀNH GIÁO DỤC 1. Một số vấn đề lý luận về công tác thi đua, khen thưởng 1. Khái niệm thi đua Nghiên cứu về những vấn đề lý luận, có ý kiến cho rằng thi đua chính là cạnh tranh, có ý kiến lại khẳng định thi đua không hoàn toàn là cạnh tranh. Cạnh tranh bao hàm cả ý nghĩa tích cực và tiêu cực, trong đó thi đua chính là kết quả tích cực phát sinh trong quá trình lao động sản xuất của loài người.
Mac: Khi nghiên cứu về thi đua, C.Mác cho rằng mặc dù gây nhiều hậu quả tiêu cực, song cạnh tranh là một động lực phát triển trong chế độ tư bản chủ nghĩa. Bởi “đối với lao động, cạnh tranh có ý nghĩa trọng yếu như phân công vậy. Nó cần thiết cho việc thiết lập sự bình đẳng”. Đồng quan điểm với C.
Ăng-ghen chỉ rõ gốc rễ của cạnh tranh là chế độ tư hữu, điều đó cũng có nghĩa là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, hãy còn thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa, thì cạnh tranh vẫn tồn tại cùng với sự xuất hiện thi đua. Cạnh tranh có nhiều tiêu cực, nhưng cũng không thể thủ tiêu cạnh tranh bằng mệnh lệnh. Trong khi cạnh tranh còn tồn tại, cần phải xây dựngchế độ mới với động lực thúc đẩy mới - đó là thi đua.[18] Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, thi đua tất yếu ra đời, dần dần thay thế cạnh tranh.Mác đánh giá cao vai trò của sự hiệp tác trong lao động, bởi nó tạo ra sức mạnh tập thể lớn hơn sức mạnh của từng lao động cá nhân cộng lại. Thi đua được nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và có kế hoạch của nền sản xuất hiện đại.
Sự tiếp xúc xã hội đã tạo ra thi đua và làm tăng năng suất lao động của người công nhân. Những quan điểm cơ bản của C. Ăng-ghen về cạnh tranh và thi đua đã đặt nền tảng tư 11 Luan van tưởng về tổ chức thi đua trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và trong chế độ xã hội chủ nghĩa tương lai.Mác là người đầu tiên nghiên cứu một cách khoa học về bản chất và nội dung của thi đua. Trên cơ sở những quan điểm nền tảng của C.Ăng ghen về thi đua, Lê nin đã nghiên cứu và đưa ra những quan điểm, tư tưởng cơ bản về thi đua xã hội chủ nghĩa, đó là phong trào tự nguyện, góp sức giải quyết khó khăn, xây dựng xã hội mới của quần chúng lao động được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột.
Lê nin đã chỉ ra rằng thi đua có tính tự phát trong quá trình hiệp tác lao động có “sự tiếp xúc xã hội” của con người sẽ thay đổi về chất trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Thi đua và cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế, song, thi đua hơn hẳn cạnh tranh ở tính nhân đạo vì sự phát triển toàn diện của xã hội và con người.[18] - Theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một quan điểm mới về thi đua: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Đây là một quan điểm thể hiện sự sáng tạo độc đáo trong tư tưởng về thi đua, thể hiện cách nhìn sâu rộng và là một sự phát triển mới về thi đua.
Quan niệm “Thi đua là yêu nước”, Bác đã nâng thi đua lên tầm tư tưởng mới. Trước đây, nói về thi đua, người ta thường cho thi đua là một hoạt động nâng cao hiệu quả trong lao động sản xuất, công tác hoặc là một hoạt động trong công việc nào đó nhằm khích lệ, thúc đẩy sự nỗ lực, nhiệt tình và sự sáng tạo trong lao động. Theo Người, thi đua không chỉ là hoạt động sáng tạo, tích cực trong lao động, trong công việc hằng ngày, mà nó trở thành hoạt động tư tưởng và tinh thần, của lòng yêu nước, là biểu hiện của tinh thần đấu tranh cách mạng, hy sinh phấn đấu vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc nhân dân và tinh thần quốc tế cao cả. Bác đã đặt tên cho phong trào thi đua của nhân dân ta là “Phong trào thi đua yêu nước”, biến thi đua thành sức mạnh của dân tộc trong lao động sản xuất và 12 Luan van trong chiến đấu.
Quan niệm thi đua là yêu nước được thể hiện ở việc lấy thi đua làm động lực phát huy tinh thần yêu nước, động lực đó được thể hiện bằng hành động thực tế; ngược lại lấy lòng yêu nước để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả thi đua. Ngay từ khi phát động phong trào thi đua, Bác nói: “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và ích lợi cho làng, cho nước, cho dân tộc”[26]. Nhiệm vụ của thi đua yêu nước phải gắn liền tư tưởng, tinh thần với hành động cụ thể. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ.
Thi đua giúp cho đoàn kết chặt chẽ thêm và đoàn kết chặt chẽ để thi đua mãi”.[26] - Quan điểm của Đảng ta về thi đua yêu nước thời kỳ đổi mới Những tư tưởng đổi mới về thi đua yêu nước và công tác khen thưởng của Đảng ta thể hiện rõ trong các Chỉ thị 35 ngày 3/6/1998, Chỉ thị 39 ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị và trong Kết luận số 83 của Ban Bí thư ngày 30- 8-2010, trong đó, Đảng ta khẳng định cần tiếp tục thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh coi thi đua, khen thưởng là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới, thi đua yêu nước phải được tiến hành thường xuyên, liên tục hằng ngày. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tác dụng của phong trào thi đua yêu nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay; coi thi đua yêu nước là động lực to lớn thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Các phong trào thi đua phải gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị và cơ sở, có mục tiêu, nội dung cụ thể, thiết thực. Dấy lên phong trào thi đua sôi nổi nhằm phát huy cao độ tính tích cực trong mọi ngành, mọi giới, các dân tộc, các tầng lớp nhân 13 Luan van dân, các lực lượng vũ trang, các thành phần kinh tế, rộng khắp trong cả nước, tạo ra động lực tinh thần, vật chất mới hăng hái, tham gia lao động sản xuất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần kiệm sáng tạo, cống hiến sức lực, trí tuệ, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đảng ta cũng chỉ rõ, cần kịp thời tổng kết các phong trào thi đua yêu nước, tập trung chỉ đạo phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến để cổ vũ, động viên mọi người học tập và làm theo phương châm “Lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”, tạo không khí phấn khởi trong đời sống xã hội”. Chú trọng đổi mới nội dung và hình thức thi đua khen thưởng; kết hợp chặt chẽ giữa thi đua với khen thưởng. Các cấp ủy Đảng, tổ chức Đảng, thủ trưởng các đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phong trào thi đua. “Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với công tác thi đua khen thưởng”.
Thể chế hóa quan điểm của Đảng về thi đua, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản về công tác thi đua, khen thưởng như Luật Thi đua, khen thưởng, Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật. Khoản 1 Điều 3 Luật Thi đua, khen thưởng 2003 quy định: “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của các cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Khái niệm khen thưởng Trong lịch sử, khen thưởng đã ra đời và tồn tại khá lâu gắn liền với việc thưởng phạt của Nhà nước. - Thời phong kiến việc khen thưởng được đề cập rất đa dạng.
Có nhiều hình thức khen thưởng được triều đình phong kiến áp dụng như: “Khen thưởng người có công trong chiến trận; Khen thưởng người có công trong việc đi sứ; Khen thưởng người phò tá có công lao tài đức; Khen thưởng người tiến cử, người hiền tài; Khen thưởng người có lời tâu đúng; Khen thưởng 14 Luan van người cấp dưới giữ đúng phép công, không vị nể người quyền quý cấp trên; Khen thưởng người có công làm thủy lợi; Khen thưởng người có tài văn chương; Khen thưởng người cao tuổi. Khen thưởng trong thời kỳ phong kiến được các nhà nước áp dụng ghi nhận công trạng của những cá nhân có đóng góp cho triều đình, cho đất nước. Do đó, việc khen thưởng các công trạng chính là đề cao tinh thần yêu nước sâu sắc của dân tộc ta. Khen thưởng thời phong kiến còn được coi như thước đo sự phát triển của nhà nước.
Theo Nguyễn Trãi: “Một Nhà nước mà thưởng phạt nghiêm minh, kịp thời là nhà nước vững mạnh. Nhà nước nào phạt nhiều hơn thưởng là nhà nước đang suy tàn. Nhà nước nào thưởng nhiều hơn phạt là nhà nước phồn vinh” [26]. - Thời Cách mạng tháng 8: Đất nước giành được độc lập xây dựng chính quyền, ngày 26/1/1946, với tư cách là Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố một Quốc lệnh quy định 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt để cho “quân dân biết rõ những tội nêntránh, những việc nên làm”.
Điều này chứng tỏ Bác hết sức quan tâm đến khen thưởng và trên hết Bác đã nhận định được tầm quan trọng của khen thưởng trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn ban hành chỉ thị “Có công thì thưởng, có lỗi thì phạt, khen thưởng phải có tác dụng giáo dục, động viên, nêu gương.” [26], do đó khen thưởng còn là một chính sách của nhà nước để ghi công, tôn vinh các cá nhân, tập thể có thành tích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, khen là sự nhận xét đánh giá tốt về một con người nào đó; tổ chức nào đó, về cái gì, việc gì đó với ý nghĩa tích cực, hài lòng.