phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài dự kiến kết cấu 04 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu; cơ sở lý luận và thực tiễn vềquản lý hoạt động thanh toán điện tử của Kho bạc Nhà nƣớc. Chƣơng 2:Thiết kế và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý hoạt động thanh toán điện tử của Kho bạc Nhà nƣớcViệt Nam Chƣơng 4:Phƣơng hƣớng phát triển và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động thanh toán điện tử củaKho bạc Nhà nƣớcViệt Nam. 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CƢ́U;CƠ SỞLÝLUÂṆ VÀ THỰC TIỄN VỀQUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN ĐIỆN TỬ CỦA KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan các công trinh̀s nghiên cứu trong vàngoài nƣớc 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc Theo kết quả nghiên cứu của Citigroup (Digital money index, 2017) về chỉ số tiền số cho thấy các quốc gia phát triển luôn tiên phong trong thanh toán điện tử nhƣ Singapore đứng đầu về chỉ số tiền số, thứ hai là Mỹ, thứ ba là Phần Lan và thứ tƣ là Vƣơng quốc Anh. Ngoài ra, theo báo cáo trên ((Digital money index, 2017, trang 9), từ năm 2014 đến 2017, tại một số quốc gia có sự tăng trƣởng về chỉ số giao dịch không dùng tiền mặt nhƣ Ấn Độ tăng 9,7%; Băng-La-Đét tăng 8%; Trung quốc tăng 4,6% và Việt Nam tăng 4,5%. Nhƣ vậy, so với chỉ số tăng trung bình toàn cầu là 2%, từ 2014 đến 2017, Việt Nam cho thấy là một quốc gia đang đẩy mạnh quá trình chuyển đổi sang thanh toán không dùng tiền mặt. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng và lợi ích của Thanh toán điện tử, tháng 8/1998, Chủ tịch Ủy ban Kinh tế, Tiền tệ và Chính sách Công nghiệp của Liên minh Châu Âu đã yêu cầu Viện nghiên cứu và triển khai công nghệ SEVILLE thực hiện nghiên cứu về Hệ thống Thanh toán Điện tử để hoàn thành vào đầu năm 1999 (Study on Electronic Payment Systems for the Committee on Economic and Monetary Affairs and Industrial Policy of the European Parliament, Alman Metten MEP, 1999).
Tháng 5 năm 1999, báo cáo nghiên cứu do Tiến sỹ Alman Metten và các nghiên cứu viên đã đƣa ra tổng quan về các chính sách thƣơng mại điện tử và các phân tích đối với việc 9 áp dụng các hệ thống thanh toán mới. Nghiên cứu này cung cấp một bức tranh toàn cảnh về hệ thống thanh toán điện tử, vị trí của các bên tham gia, các vấn đề về an toàn thanh toán, thƣơng mại điện tử xuyên biên giới, vấn đề tiêu chuẩn hóa cùng với các quy định, chính sách tiền tệ để ổn định hệ thống. Các nghiên cứu của tiến sỹ Alman Menten mới chỉ dự báo đƣợc một phần của sự phát triển thanh toán điện tử. Sự bùng nổ của Internet, thƣơng mại điện tử và các giao dịch xuyên biên giới đã khiến thanh toán điện tử trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Cũng từ đó phát sinh nhiều nguy cơ tiềm ẩn trong giao dịch thanh toán điện tử. Nhìn nhận từ góc độ kỹ thuật, giáo sƣ Hariom Tyagi, tiến sĩ Abhishek Shukla và trợ lý Mamta thuộc Đại học kỹ thuật Abdul Kalam, Ấn Độ đã thực hiện một Nghiên cứu về các hệ thống thanh toán điện tử của Ấn độ (The Study of Electronic Payment Systems; Hariom Tyagi, Abhishek Shukla & Mamta, 2016). Nghiên cứu đã chỉ rõ các nguy cơ và thách thức của các hệ thống thanh toán điện tử; các gian lận trong thanh toán điện tử và đƣa ra các khuyến nghị để tạo ra các thanh toán trực tuyến an toàn, nâng cao chất lƣợng hệ thống thanh toán điện tử. Đối với các nghiên cứu về phƣơng thức thanh toán điện tử, tháng 11/2015, tổ chức Worldpay (Anh) thông qua nghiên cứu hơn 300 chƣơng trình thanh toán tại 30 quốc gia (Global payments report preview, Worldpay, 2015) đã đƣa ra dự báo về thanh toán toàn cầu và các khuyến nghị về phƣơng thức thanh toán điện tử phù hợp nhu cầu thực tế của một số quốc gia.
Theo dự báo của Worldpay, các phƣơng thức thanh toán không dùng tiền mặt sẽ chiếm 59% tổng doanh thu Thƣơng mại Điện tử toàn cầu vào năm 2017 (Global payments report preview, Worldpay, 2015, trang 10). Ngoài ra, báo cáo của Worldpay cũng tổng hợp xu hƣớng thanh toán hiện tại ở các quốc gia này từ đó khuyến nghị về phƣơng thức thanh toán điện tử phù hợp. Tuy nhiên, nghiên cứu này tập trung vào các phƣơng thức thanh toán điện tử phổ biến 10 trong thƣơng mại điện tử, kết nối khách hàng, doanh nghiệp với ngân hàng mà chƣa đề cập đến kết nối giữa ngƣời dân – ngân hàng – kho bạc. Về nghiên cứu kết nối thanh toán giữa ngân hàng và kho bạc, tổ chức FIS&SUNGARD năm 2014 đã đƣa ra khuyến nghị về phƣơng thức quản lý hoàn chỉnh các kết nối ngân hàng thông qua các dịch vụ SWIFT (Treasury and payments - Managed Bank Connectivity, Fis&Sungard, 2014) trong đó có kết nối ngân hàng – kho bạc.
Ngoài ra, nghiên cứu còn đƣa ra các khuyến nghị về kênh truyền đảm bảo kết nối an toàn và tin cậy giữa kho bạc và các đối tác ngân hàng thông qua kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp (mạng SWIFT hoặc các mạng trao đổi khác). Đối với nghiên cứu về thanh toán điện tử trong hệ thống kho bạc, báo cáo nghiên cứu về Mô hình tham chiếu trong Kho bạc (Ali Hashim và Bill Allan, 2001) đã đƣa ra các mô hình tham chiếu dành cho kho bạc, cụ thể là mô hình cho kho bạc Hoa Kỳ. Nghiên cứu này cũng nêu rõ các vấn đề liên quan đến thanh toán, thanh toán điện tử trong hệ thống kho bạc và ngân hàng. Đồng thời khuyến nghị áp dụng cho các quốc gia đang phát triển.
Mô hình thanh toán của kho bạc Hoa Kỳ cũng là mô hình tham chiếu khuyến nghị áp dụng cho Việt Nam khi xây dựng hệ thống thanh toán điện tử của KBNN với các ngân hàng. Có thể thấy, đối với lĩnh vực thanh toán điện tử đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu dƣới nhiều khía cạnh cụ thể khác nhau, tuy nhiên các nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào đối tƣợng nghiên cứu là thanh toán điện tử tại các hệ thống Ngân hàng; mô hình kết nối thanh toán điện tử. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nƣớc Thực hiện Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt taịViêṭNam theo từng giai đoạn của Thủ tƣớng Chính Phủ, trong đó có mục tiêu phát triển 11 hệ thống thanh toán điện tử nói chung và thanh toán liên ngân hàng nói riêng, Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm đƣa ra định hƣớng và phát triển hệ thống thanh toán điện tử của tổ chức mình, mà đối tƣợng chủ yếu là thanh toán điện tử tại Ngân hàng Nhà nƣớc và các Ngân hàng thƣơng mại. Với vai trò là cơ quan chủ trì Đề án, Ngân hàng Nhà nƣớc đã có nhiều nghiên cứu nội bộ, thực hành nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả và khai thác tốt hơn công suất của hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (Triển khai thanh toán không dùng tiền mặt, báo Sài gòn đầu tƣ, 2012).
Các nghiên cứu này tập trung vào đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng mạng lƣới chấp nhận thẻ, điều chỉnh mức phí dịch vụ thanh toán liên ngân hàng, áp dụng chuẩn về thẻ thanh toán nội địa, xây dựng kế hoạch phát triển thẻ gắn vi mạch điện tử tại Việt Nam. Ngân hàng Nhà nƣớc cũng xây dựng Đề án phát triển hệ thống thanh toán bù trừ tự động cho các giao dịch ngân hàng bán lẻ và hoàn thành Đề án xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất (Quyết đinḥ số 1131/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 5 năm 2012 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc). Các Ngân hàng thƣơng mại cũng đã xây dựng chiến lƣợc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt. Cụ thể, Ngân hàng cổ phần Công thƣơng Việt Nam với chiến lƣợc phát triển hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại giai đoạn 2010 - 2015 và giai đoạn 2015 - 2020.
Mục tiêu của chiến lƣợc này là đƣa VietinBank trở thành ngân hàng hàng đầu cung cấp các giải pháp thanh toán điện tử tại Việt Nam, từng bƣớc hội nhập với các nƣớc trong khu vực và thế giới. Những nhiệm vụ trọng yếu trong Chiến lƣợc nhƣ: Thiết lập cơ chế chính sách khuyến khích và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt; nghiên cứu phát triển và đẩy mạnh triển khai các sản phẩm thanh toán không dùng tiền mặt; phối hợp với các bộ, ngành, các cơ quan quản lý nhà nƣớc xây dựng các đề án thanh toán liên ngành. Hoạt động này đã tạo sự liên kết chặt chẽ 12 trong chuỗi cung ứng dịch vụ thanh toán xuyên suốt từ khâu quản lý nhà nƣớc đến đáp ứng nhu cầu thanh toán của nền kinh tế hƣớng tới mục tiêu của Chính phủ điện tử hóa các dịch vụ công (Dƣơng Công Chiến, 2016). Bên cạnh đó, thông qua đánh giá về tỷ trọng giao dịch thanh toán qua hệ thống chuyển mạch quốc gia NAPAS, tác giả nghiên cứu “Phát triển đồng bộ giải pháp thanh toán không dùng tiền mặt” (Đức Nghiêm, 2017) đã khẳng định tính đúng đắn trong các giải pháp đồng bộ của NHNN và NHTM và đƣa ra mục tiêu, giải pháp phát triển đồng bộ thanh toán điện tử trong giai đoạn 2016-2020.
Bằng việc khái quát phƣơng thức thanh toán không dùng tiền mặt ở trên thế giới hiện nay, phân tích các đánh giá của World Bank về tình hình thanh toán của các nƣớc trên thế giới, tác giả nghiên cứu “Thanh toán không dùng tiền mặt: Xu hƣớng trên thế giới và thực tiễn tại Việt Nam” (Đỗ Thị Lan Phƣơng, 2014) và “Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” (TS. Nguyễn Thanh Mai, 2014) đã đƣa ra giải pháp đẩy mạnh phƣơng thức thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam thông qua các phƣơng thức thanh toán không dùng tiền mặt, đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời tiêu dùng. Đối với các nghiên cứu về tầm nhìn quản lý của cơ quan nhà nƣớc đối với thanh toán điện tử, nghiên cứu về “Thúc đẩy phát triển dịch vụ thanh toán điện tử” (Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, 2016) đã đƣa ra các giải pháp nhằm hiện thực hóa tầm nhìn của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam (NHNN) tiến tới một xã hội không dùng tiền mặt; thúc đẩy phát triển dịch vụ thanh toán điện tử (TTĐT) để theo kịp với các nƣớc tiên tiến trong khu vực và thế giới.