Chương 1: Bối cảnh của vấn đề nghiên cứu. Giới thiệu cơ sở hình thành đề tài; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu của đề tài. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và nghiên cứu liên quan. Tóm tắt các lý thuyết liên quan, trên cơ sở đó xác định các giả thuyết và xây dựng mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Trình bày, mô tả quá trình nghiên cứu; thu thập và xử lý số liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Trình bày hiện trạng nguồn tài nguyên cát và công tác quản lý tài nguyên cát ở tỉnh Bình Định; kết quả xử lý và phân tích số liệu; kiểm định các giả thuyết, mô hình đã nêu ra.
Chương 5: Kết luận và các kiến nghị. Kết luận, đề xuất một số hàm ý, nêu các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Chương 2 trình bày khái niệm môi trường, tài nguyên; mối quan hệ giữa tài nguyên và kinh tế; giá trị sử dụng trực tiếp của tài nguyên; các phương pháp đánh giá giá trị của tài nguyên, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên mức sẵn lòng chi trả; các nguồn thu cho ngân sách từ hoạt động khoáng sản: thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, lệ phí cấp giấy phép khai thác và tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Bên cạnh đó, tác giả cũng lượt khảo ba bài nghiên cứu nổi bật trong nước và ngoài nước có liên quan làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài.
Tổng quan cơ sở lý thuyết 2. Môi trường, tài nguyên Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Luật Bảo vệ môi trường, 2014, điều 3, khoản 1). Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác (Luật Bảo vệ môi trường, 2014, điều 3, khoản 2). Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, phi vật chất và tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới cho con người (Nguyễn Thế Chinh, Giáo trình kinh tế và quản lý môi trường).
Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người. Xã hội loài người càng phát triển, số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người khai thác ngày càng tăng. Theo quan điểm kinh tế môi trường, tài nguyên thiên nhiên được chia làm hai loại là tài nguyên có thể tái tạo (renewable resources) và tài nguyên không thể tái tạo hoặc tài nguyên có khả năng bị cạn kiệt (non-renewable resources). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Tài nguyên thiên nhiên Có khả năng tái tạo Không có khả năng tái tạo Tạo tiền đề tái tạo Không thể tái tạo Vi sinh vật Động vật Thực vật Cạn kiệt: dầu khí, Tái tạo: kim loại, Năng lượng mặt Thổ nhưỡng Không khí than đá, … thủy tinh Nước Nguồn: Nguyễn Thế Chinh, Giáo trình kinh tế và quản lý môi trường, 2003 Tài nguyên có thể tái tạo là những nguồn tài nguyên có khả năng tự phục hồi theo các quy luật và chu trình chuyển hóa của tự nhiên.
Ví dụ như năng lượng mặt trời, năng lượng gió. Đối với tài nguyên có thể tái tạo, nếu việc khai thác của con người không hợp lý thì nguồn tài nguyên này vẫn có thể bị cạn kiệt. Nên bài toán đặt ra là: (i) Làm sao khai thác tài nguyên tái tạo một cách bền vững và (ii) Mức giá đưa ra như thế nào để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. Tài nguyên không thể tái tạo là những nguồn tài nguyên không thể tự phục hồi theo các quy luật tự nhiên; việc khai thác của con người làm giảm trữ lượng tự nhiên của những nguồn tài nguyên này.
Ví dụ như: than đá, dầu mỏ. Đối với tài nguyên không thể tái tạo, việc khai thác của thế hệ hiện tại tất yếu làm giảm trữ lượng tài nguyên dành cho thế hệ tương lai. Nên bài toán đặt ra là: (i) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Làm sao phân bổ tài nguyên hợp lý theo thời gian, giữa các thế hệ để đạt viễn cảnh cạn kiệt tối ưu và (ii) Mức giá đặt ra trong mỗi giai đoạn. Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ (Luật Khoáng sản, 2010, điều 2, khoản 1).
Cát xây dựng thuộc nhóm khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường có hàm lượng SiO2 nhỏ hơn 85%, không có hoặc có các khoáng vật cansiterit, volframit, monazit, ziricon, ilmenit, vàng đi kèm nhưng không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Luật Khoáng sản, 2010, điều 64, khoản 1, điểm a). Mối quan hệ giữa tài nguyên và kinh tế Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan (Luật Khoáng sản, 2010, điều 2, khoản 7). Trên lý thuyết, các khoáng sản là tài nguyên không tái tạo nên ngày càng cạn kiệt, dẫn đến giá sẽ ngày càng tăng. Thực tế, giá khoáng sản có thể giảm do thị trường trong ngắn hạn không nhìn nhận đặc tính giới hạn về số lượng của tài nguyên hoặc sự phát triển của công nghệ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Nền kinh tế là một hệ thống mở, để cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho con người nền kinh tế phải khai thác tài nguyên từ môi trường, chế biến những tài nguyên này thành những sản phẩm hoàn chỉnh để tiêu thụ.1: Mối quan hệ giữa môi trường và kinh tế Nguồn: Barry Field. Environmental Economics: An introduction.21 Hoạt động của hệ thống kinh tế sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thải các chất thải vào môi trường, làm suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Chất thải từ hệ thống kinh tế: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Mối quan hệ giữa hệ thống kinh tế với hệ thống tài nguyên Nguồn: Nguyễn Thế Chinh, Giáo trình kinh tế và quản lý môi trường, 2003 Mô hình trên cho thấy nền kinh tế là một hệ thống chế biến nguyên liệu chuyển đổi thành sản phẩm. Các nguyên liệu hữu dụng gồm các tài nguyên không thể tái tạo như khoáng sản, dầu và những tài nguyên có thể tái tạo như lâm sản, thủy hải sản được hút vào hệ thống kinh tế.
Hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra là hiện thân của một phần nguồn vật chất và nhiên liệu này sau đó đến tay người tiêu dùng. Có ba quan điểm cơ bản kết hợp giữa tài nguyên và phát triển kinh tế, bao gồm: (i) Quan điểm gia tăng số không, (ii) Quan điểm bảo vệ và (iii) Quan điểm phát triển bền vững. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Đại diện cho lý thuyết gia tăng số không là J.Pestel (trích từ bài giảng Nguyễn Văn Song) với quan điểm ngừng hẳn gia tăng của sản xuất, tức là tăng trưởng bằng 0 hoặc âm. Đây là quan điểm mang tính chất duy ý chí và thiếu thực tế.
Quan điểm bảo vệ lấy bảo vệ làm mục đích, hạn chế và ngăn chặn mọi hình thức khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên, không can thiệp vào thiên nhiên, nhất là tại các địa bàn chưa được khảo sát và nghiên cứu đầy đủ. Quan điểm này cũng là giải pháp không thể thực hiện được, nhất là tại các nước thu nhập thấp, nơi mà nguồn tài nguyên khai thác lại là nguồn sống chủ yếu của đa số nhân dân ở đó. Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường (Luật Bảo vệ môi trường, 2014, điều 3, khoản 4). Cần phải phát triển bền vững do tài nguyên giới hạn trong khi nhu cầu không ngừng tăng lên.
Quan điểm phát triển bền vững có hai mô hình: (i) Mô hình phát triển bền vững mức cao và (ii) Mô hình phát triển bền vững mức thấp. Phát triển bền vững dựa trên 7 nguyên tắc: (1) Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng, (2) Cải thiện chất lượng cuộc sống con người, (3) Bảo vệ cuộc sống và tính đa dạng của trái đất, (4) Hạ chế tới mức thấp nhất việc làm suy giảm nguồn tài nguyên không tái tạo, (5) Giữ vững khả năng chịu đựng của trái đất, (6) Thay đổi thái độ và thói quen của mỗi người, (7) Tạo ra một cơ cấu quốc gia và quốc tế thống nhất thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ môi trường. Để phát triển bền vững, thế hệ tương lai phải được bồi thường những thiệt hại mà hoạt động của chúng ta gây ra hôm nay, chúng ta phải chuyển giao di sản tư bản có nghĩa là để lại cho thế hệ sau một lượng tư bản (vốn) không ít hơn những gì mà thế hệ chúng ta có hay hình thành các quỹ bù đắp cho thế hệ tương lai. Tư bản cung cấp nguồn lực để tạo ra sản phẩm và dịch vụ bảo đảm an sinh xã hội.
Nếu thế hệ hiện tại dành cho thế hệ tương lai một số vốn K không ít hơn số vốn mà họ đang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 sở hữu, thế hệ kế tiếp có thể sử dụng vốn đó để tạo ra cùng một mức phúc lợi như thế hệ hiện tại có. Dự trữ vốn K bao gồm vốn do con người tạo ra K m (nhà xưởng, máy móc, đường sá, …), vốn con người Kh (kiến thức, kỹ năng) và những tài sản thiên nhiên Kn (đất, rừng, thủy hải sản, dầu, khí, khoáng sản, tầng ozon và chu trình sinh hóa). Giá trị kinh tế của tài nguyên Khi ra một quyết định kinh tế đòi hỏi phải có các khái niệm về giá cả, lợi ích và chi phí. Tuy nhiên, trong việc đánh giá tài nguyên, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể có giá cả hiện hành của thị trường.
Hàng hóa công cộng, những lợi ích của thị trường, tài nguyên thiên nhiên mang lại hầu như không có thị trường và như vậy giá cả không xuất hiện cho chúng ta sử dụng để đánh giá giá trị của tài nguyên.