Tổng quan nghiên cứu

Tăng trưởng tổng sản phẩm địa phương (GRDP) bình quân của tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 - 2015 đạt 9,2%, trong đó tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng từ 29,2% lên 30,4%, tạo ra sức ép rất lớn đối với nhu cầu khai thác cát xây dựng. Trước ngày 01/07/2011, doanh nghiệp khai thác cát chỉ thực hiện nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường và lệ phí cấp phép mà chưa phải chi trả cho giá trị thực tế của khối lượng khoáng sản thô. Kể từ ngày 01/01/2014, tỉnh Bình Định áp dụng mức thu tiền cấp quyền khai thác cát từ 2.520 đồng/m3 theo Nghị định 203/2013/NĐ-CP, cao hơn mức thu trung bình 2.494 đồng/m3 của các tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (Quảng Nam áp dụng từ 972 đến 2.160 đồng/m3, Đà Nẵng áp dụng 1.160 đồng/m3, trong khi Bình Thuận áp dụng 4.680 đồng/m3).

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xác định mức sẵn lòng chi trả (WTP) tiền cấp quyền khai thác cát của doanh nghiệp và đề xuất các hàm ý chính sách nhằm tối ưu hóa công tác quản trị tài nguyên công. Nghiên cứu thực hiện khảo sát toàn diện đối với 31 doanh nghiệp khai thác cát xây dựng đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Bình Định trong khoảng thời gian từ tháng 01/2014 đến tháng 07/2016. Kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ thực tiễn định lượng giúp cơ quan hành chính nhà nước cân bằng hài hòa lợi ích giữa ngân sách, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, phục vụ định hướng quy hoạch 33 điểm mỏ với tổng trữ lượng dự báo 40,965 triệu m3 cát trên địa bàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế tài nguyên môi trường của Barry Field và mô hình cân bằng hệ sinh thái kinh tế của Nguyễn Thế Chinh, khẳng định tài nguyên cát là khoáng sản không tái tạo đòi hỏi cơ chế phân bổ tối ưu theo thời gian. Khung phân tích áp dụng mô hình Tổng giá trị kinh tế (TEV) do Munasinghe phát triển năm 1993, xác định giá trị của cát bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp (DUV), gián tiếp (IUV) và các giá trị phi sử dụng như giá trị lựa chọn (OV), giá trị để lại (BV) và giá trị tồn tại (EV).

Khái niệm mức sẵn lòng chi trả (WTP) theo Turner, Pearce, Bateman (1995) và Mankiw (2003) được định nghĩa là số tiền tối đa mà doanh nghiệp sẵn sàng chi trả để duy trì quyền khai thác 1m3 cát. Nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp được phân tích đa chiều thông qua các văn bản pháp lý: Thuế tài nguyên (thuế suất tăng từ 10% năm 2010 lên 11% năm 2014 và đạt 15% từ tháng 07/2016 theo Nghị quyết 1084/2015/UBTVQH13 trên giá tính thuế 70.000 đồng/m3); Phí bảo vệ môi trường từ 3.000 đến 5.000 đồng/m3 theo Nghị định 12/2016/NĐ-CP và Quyết định 43/2011/QĐ-UBND; cùng công thức tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo Nghị định 203/2013/NĐ-CP với hệ số thu hồi K1 = 0,9, hệ số địa bàn K2 từ 0,9 đến 1,0 và tỷ lệ thu R = 4%.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định cùng Cục Thuế tỉnh Bình Định từ năm 2014 đến tháng 07/2016. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu điều tra toàn bộ (census) 31 doanh nghiệp đang khai thác cát trên địa bàn, bao gồm 16 cuộc phỏng vấn trực tiếp chuyên sâu và 15 cuộc phỏng vấn qua điện thoại cùng bảng hỏi chi tiết.

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) với định dạng câu hỏi mở được lựa chọn làm công cụ định giá chủ đạo. Lý do lựa chọn câu hỏi mở nhằm loại trừ hoàn toàn sai lệch điểm khởi đầu (starting point bias) và sai lệch do gợi ý phương tiện thanh toán thường gặp trong khảo sát định giá ngẫu nhiên. Phiếu khảo sát gồm 19 biến quan sát, đo lường 12 biến số độc lập thuộc 3 nhóm: Thông tin mỏ cát (khu vực, trữ lượng, thời hạn), thông tin chủ doanh nghiệp (giới tính, độ tuổi, học vấn) và đặc điểm vận hành (công suất, giá bán, chi phí, nơi bán, hình thức bán, mục đích sử dụng). Toàn bộ dữ liệu được mã hóa, làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS 22 và Excel thông qua thống kê mô tả và kiểm định so sánh phi tham số.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy hoạch khoáng sản cát tỉnh Bình Định đến năm 2020 định hướng đến năm 2030 bao gồm 33 điểm mỏ với diện tích 8.815 ha và tổng trữ lượng dự báo 40,965 triệu m3. Huyện Phù Cát chiếm quy mô lớn nhất với 2.727 ha (30,9% diện tích) và 13,55 triệu m3 (33,1% trữ lượng). Đến tháng 07/2016, toàn tỉnh có 29 giấy phép khai thác còn hiệu lực; đồng thời đã khoanh định 45 khu vực không đấu giá quyền khai thác cát với diện tích 857,25 ha, chiếm 11,2% tổng diện tích khoanh định khoáng sản không đấu giá.

Thứ hai, mức sẵn lòng chi trả tiền cấp quyền khai thác cát bình quân của 31 doanh nghiệp được xác định ở mức khoảng 2.200 đến 2.450 đồng/m3. Mức này thấp hơn khoảng 3% đến 12% so với mức thu 2.520 đồng/m3 mà địa phương đang áp dụng. Hơn 65% chủ doanh nghiệp cho rằng gánh nặng tài chính tổng hợp từ thuế tài nguyên 15% và phí bảo vệ môi trường 5.000 đồng/m3 làm suy giảm đáng kể biên lợi nhuận ròng.

Thứ ba, các yếu tố kinh tế - kỹ thuật có tác động phân hóa rõ rệt đến mức sẵn lòng trả. Biến giá bán cát có mối tương quan thuận chiều mạnh nhất với WTP. Ngược lại, chi phí khai thác và công suất khai thác tác động nghịch chiều do quy luật lợi thế quy mô và rủi ro quản trị. Các doanh nghiệp bán cát trực tiếp tại mỏ có mức WTP cao hơn từ 15% đến 20% so với nhóm phải vận chuyển bán tại công trường hoặc kho bãi của đối tác.

Thứ tư, đặc điểm nhân khẩu học của chủ doanh nghiệp tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Khoảng 40% chủ doanh nghiệp có trình độ đại học và sau đại học đưa ra mức WTP thấp hơn từ 8% đến 10% so với nhóm có trình độ phổ thông hoặc trung cấp, do năng lực phân tích chi phí cận biên và hạch toán dòng tiền chặt chẽ hơn.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch giữa mức WTP thực tế và quy định hiện hành bắt nguồn từ việc biểu giá tính thuế tài nguyên 70.000 đồng/m3 chưa phản ánh kịp thời biến động chi phí khai thác lòng sông và áp lực từ việc tăng thuế suất tài nguyên lên 15% từ tháng 07/2016 theo Nghị quyết 1084/2015/UBTVQH13.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với phát hiện của Nguyễn Văn Song và cộng sự (2011) về vai trò của trình độ học vấn trong việc lượng hóa chi phí môi trường, đồng thời củng cố nghiên cứu của Ezebilo (2013) về tác động tiêu cực của chi phí vận hành đến mức sẵn lòng chi trả. So với nghiên cứu định giá dịch vụ nước sạch của Nguyễn Văn Ngãi và cộng sự (2012), yếu tố địa bàn khai thác và điều kiện giao thông tiếp tục đóng vai trò biến số quyết định khả năng chấp nhận chi trả của đối tượng khảo sát.

Trong cấu trúc trình bày học thuật, hệ thống số liệu này được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột thể hiện trữ lượng dự báo giữa 10 địa phương, biểu đồ tròn phân tích cơ cấu 124 khu vực không đấu giá khoáng sản và hệ thống 8 bảng thống kê mô tả ma trận kiểm định sự khác biệt WTP.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, điều chỉnh linh hoạt phương pháp xác định giá tính tiền cấp quyền khai thác cát. Sở Tài nguyên và Môi trường cần chủ trì phối hợp với Sở Tài chính và Cục Thuế rà soát, điều chỉnh mức thu tiệm cận mức WTP thực tế khoảng 2.200 đến 2.400 đồng/m3, đồng thời phân hóa hệ số K2 theo 3 nhóm địa bàn ưu đãi đầu tư. Mục tiêu đạt tỷ lệ nộp đúng hạn trên 95% và kéo giảm nợ đọng ngân sách xuống dưới 5% trong giai đoạn 2017 - 2018.

Thứ hai, đẩy mạnh tổ chức đấu giá công khai quyền khai thác khoáng sản cát. Ủy ban nhân dân tỉnh cần khẩn trương đưa 2 điểm mỏ cát tại huyện Tây Sơn vào kế hoạch đấu giá điểm theo Công văn 3166/UBND-KT, từng bước giảm tỷ trọng diện tích 857,25 ha thuộc diện chỉ định không đấu giá. Mục tiêu nâng giá trị thu ngân sách bình quân từ mỗi mỏ tăng ít nhất 20% so với giá khởi điểm trong giai đoạn 2017 - 2019.

Thứ ba, thiết lập hệ thống kiểm soát sản lượng khai thác thực tế thông qua công nghệ giám sát. Yêu cầu 100% các đơn vị được cấp phép phải lắp đặt trạm cân tải trọng và hệ thống camera truyền dữ liệu trực tiếp về cơ quan quản lý trước quý 4 năm 2018, đảm bảo kiểm soát chặt chẽ công suất phát triển vật liệu cát toàn tỉnh đạt 1.595 nghìn m3/năm theo Quyết định 286/QĐ-UBND.

Thứ tư, chuẩn hóa quy trình cấp phép và tuyên truyền chính sách pháp luật khoáng sản. Chi cục Quản lý Tài nguyên cần rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ cấp mới và gia hạn giấy phép từ 90 ngày xuống dưới 45 ngày, kết hợp tổ chức 2 khóa tập huấn chuyên sâu thường niên cho 100% doanh nghiệp về Luật Khoáng sản 2010 và Luật Bảo vệ môi trường 2014 trong giai đoạn 2017 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước: Lãnh đạo và chuyên viên các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Tài chính, Cục Thuế các địa phương. Giá trị mang lại là khung phương pháp định lượng khoa học để xây dựng chính sách thu tiền cấp quyền, tối ưu hóa nguồn thu ngân sách từ 45 khu vực mỏ cát và hoàn thiện quy chế đấu giá khoáng sản.

Nhóm doanh nghiệp khai thác và nhà thầu xây dựng: Các chủ mỏ cát, hợp tác xã, doanh nghiệp vật liệu xây dựng và nhà thầu hạ tầng. Giá trị mang lại là sự am hiểu sâu sắc về cơ cấu 4 khoản nghĩa vụ tài chính bắt buộc (thuế tài nguyên, phí môi trường, lệ phí cấp phép, tiền cấp quyền 4%) để lập kế hoạch tài chính và tối ưu hóa chi phí sản xuất kinh doanh.

Nhóm viện nghiên cứu và giảng viên học thuật: Các chuyên gia kinh tế môi trường, kinh tế tài nguyên và quản lý công. Tài liệu cung cấp cơ sở tham khảo vững chắc về việc kết hợp khung lý thuyết TEV với mô hình CVM câu hỏi mở trong định giá tài nguyên khoáng sản không tái tạo.

Nhóm học viên cao học và sinh viên chuyên ngành: Người học các ngành Quản lý công, Kinh tế phát triển, Quản lý tài nguyên môi trường. Luận văn là hình mẫu chuẩn mực về thiết kế bảng hỏi 19 biến quan sát, kỹ thuật xử lý tổng điều tra toàn bộ 31 đơn vị và phương pháp phân tích thống kê mô tả trên phần mềm SPSS 22.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp CVM câu hỏi mở mang lại lợi thế gì khi định giá tiền cấp quyền khai thác cát? Phương pháp CVM câu hỏi mở giúp thu thập chính xác mức giá tối đa mà 31 doanh nghiệp sẵn lòng chi trả mà không bị áp đặt tâm lý bởi các mức giá mồi. Cách tiếp cận này loại bỏ hoàn toàn sai lệch điểm khởi đầu, giúp phản ánh trung thực mức WTP thực tế khoảng 2.200 đến 2.450 đồng/m3.

Tiền cấp quyền khai thác cát tại tỉnh Bình Định được tính toán dựa trên những căn cứ pháp lý nào? Tiền cấp quyền được tính theo Nghị định 203/2013/NĐ-CP dựa trên trữ lượng địa chất cấp phép Q, giá tính tiền cấp quyền G (áp dụng theo giá tính thuế 70.000 đồng/m3), hệ số thu hồi K1 = 0,9, hệ số khu vực K2 từ 0,9 đến 1,0 và mức thu R = 4%.

Tại sao mức thu tiền cấp quyền khai thác cát tại Bình Định lại cao hơn bình quân khu vực miền Trung? Mức thu tại Bình Định áp dụng từ 2.520 đồng/m3, cao hơn mức trung bình 2.494 đồng/m3 của 8 tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ do bảng giá tính thuế tài nguyên của tỉnh ở mức 70.000 đồng/m3, trong khi các tỉnh lân cận như Quảng Nam chỉ áp dụng mức thu từ 972 đồng/m3.

Trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp tác động như thế nào đến quyết định sẵn lòng chi trả? Khảo sát chỉ ra hơn 40% chủ doanh nghiệp có trình độ đại học và sau đại học đưa ra mức WTP thấp hơn từ 8% đến 10% so với nhóm còn lại, do họ có khả năng phân tích chi phí biên và đánh giá tác động tăng thuế tài nguyên lên 15% chuẩn xác hơn.

Việc tổ chức đấu giá quyền khai thác cát thay cho cơ chế xét duyệt cấp phép mang lại lợi ích gì? Đấu giá công khai giúp minh bạch hóa thị trường, loại bỏ cơ chế xin cho tại 857,25 ha mỏ chỉ định, đồng thời giúp tăng nguồn thu ngân sách địa phương từ 20% đến 30% so với mức thu cố định theo quy định hiện hành.

Kết luận

  • Luận văn đã lượng hóa thành công mức sẵn lòng chi trả (WTP) tiền cấp quyền khai thác cát của 31 doanh nghiệp tại Bình Định ở mức khoảng 2.200 đến 2.450 đồng/m3.
  • Công trình chỉ ra sự chênh lệch đáng kể giữa mức WTP thực tế của doanh nghiệp so với mức áp thu hiện hành 2.520 đồng/m3 của địa phương.
  • Nghiên cứu làm rõ tác động đa chiều của 12 biến số kinh tế, kỹ thuật và nhân khẩu học đến hành vi chi trả của doanh nghiệp khai thác khoáng sản.
  • Đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý 33 điểm mỏ quy hoạch với trữ lượng 40,965 triệu m3 và 45 khu vực khoanh định không đấu giá diện tích 857,25 ha.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ kết hợp hoàn thiện biểu giá, đẩy mạnh đấu giá mỏ, lắp đặt camera giám sát sản lượng và cải cách thủ tục cấp phép.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học thực nghiệm tiên phong cho công tác quản trị tài nguyên khoáng sản tại miền Trung. Kế hoạch tiếp theo cần mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các loại khoáng sản đá xây dựng và titan sa khoáng trong giai đoạn 2018 - 2022. Các nhà quản lý chính sách và chuyên gia phân tích hãy áp dụng ngay khung phương pháp này để nâng cao hiệu quả quản trị công tại địa phương.