Tổng quan luận án
Công trình "Quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục (mã số 9 14 01 14), do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hồng Mến thực hiện tại Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Phước Minh và TS. Đỗ Thị Thu Hằng.
Về tính cấp thiết, nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Trong tiến trình này, Nhà nước từng bước chuyển đổi cơ chế quản lý tài chính từ bao cấp hoàn toàn sang trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP cùng các văn bản hướng dẫn chuyên ngành của Bộ Tài chính như Thông tư số 71/2006/TT-BTC, Thông tư số 113/2007/TT-BTC, Thông tư số 81/2006/TT-BTC và Quyết định số 181/2005/QĐ-TTg. Đối với hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – cơ quan trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của hệ thống chính trị – hoạt động tài chính vốn mang tính đặc thù cao và có truyền thống bao cấp toàn diện. Việc chuyển giao sang quản lý theo Luật Ngân sách nhà nước từ năm 2008 và triển khai quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đặt ra nhiều áp lực về việc huy động, phân bổ, sử dụng nguồn lực tiết kiệm và hiệu quả. Trên thực tế, công tác quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo trực thuộc hệ thống vẫn còn tình trạng quản lý tập trung, điều tiết kinh phí khó khăn, cơ chế phân cấp và kiểm tra giám sát chưa đồng bộ, trình độ đội ngũ quản lý tài chính còn hạn chế so với yêu cầu đổi mới.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về tự chủ tài chính trong giáo dục đại học nói chung, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về đổi mới quản lý tài chính theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm áp dụng riêng cho các cơ sở đào tạo trực thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về tài chính và quản lý tài chính trường đại học, tiến hành đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm 4 nội dung:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới; đề xuất hệ thống các nội dung liên quan đến quản lý tài chính theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
- Khảo sát, điều tra, phân tích thực trạng tài chính, đổi mới hoạt động tài chính và quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện trong giai đoạn gần đây; đánh giá thực trạng theo các chức năng cơ bản của quản lý.
- Đề xuất các giải pháp quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
- Tổ chức khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp; tiến hành thực nghiệm 01 giải pháp tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài gồm 4 câu hỏi:
- Cần dựa trên cơ sở khoa học quản lý nào để nghiên cứu vấn đề quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học, đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm?
- Thực trạng quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có những điểm mạnh, điểm yếu nào?
- Có những vận hội và cản trở nào trong tiến trình đổi mới hoạt động tài chính của các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm?
- Cần có các giải pháp quản lý nào để hoạt động quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm?
Giả thuyết khoa học được phát biểu nguyên văn: Hiện nay, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đã được các cơ sở đào tạo đại học thực hiện và đạt được một số thành tựu nhất định đáp ứng yêu cầu đổi mới là phục vụ có hiệu quả cho hoạt động đảm bảo chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, thực trạng quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh còn nhiều bất cập, chưa thực sự đáp ứng được những yêu cầu trong tình hình mới. Nếu thực hiện quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện theo mô hình quản lý phân cấp tự chủ, tự chịu trách nhiệm dựa trên các chức năng cơ bản của quản lý và phù hợp với thực tiễn các cơ sở thì sẽ đảm bảo việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn tài chính phục vụ nhiệm vụ trọng tâm là đào tạo và nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong bối cảnh mới.
Luận án bảo vệ 4 luận điểm:
- Luận điểm 1: Quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới là vấn đề cấp bách trong hoạt động quản lý giáo dục, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo; do đó cần đổi mới theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
- Luận điểm 2: Quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện hiện nay chưa thực sự đồng bộ, còn tồn tại hạn chế về năng lực đội ngũ, cơ chế phân cấp, chính sách kiểm tra, giám sát và công khai tài chính.
- Luận điểm 3: Tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính và quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống là giải pháp phù hợp, giúp tăng nguồn thu sự nghiệp, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước và cải thiện thu nhập cho cán bộ, giảng viên, nhân viên.
- Luận điểm 4: Năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ quản lý tài chính và cơ chế kiểm tra, giám sát, công khai minh bạch có tác động trực tiếp đến hiệu quả quản lý tài chính theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tài chính ở các cơ sở đào tạo đại học.
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
- Giới hạn phạm vi khảo sát: Tiến hành tại 3 cơ sở đào tạo đại diện gồm Trung tâm Học viện (Hà Nội), Học viện Chính trị khu vực II (Thành phố Hồ Chí Minh) và Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Hà Nội).
- Đối tượng khảo sát: Cán bộ chuyên trách làm công tác tài chính, cán bộ quản lý giáo dục và giảng viên tại các cơ sở đào tạo được lựa chọn.
- Thời gian khảo sát: Dữ liệu thực tế được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 01/2016 đến tháng 05/2016; các số liệu tài chính thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn 2011-2015.
- Giới hạn thực nghiệm: Thực hiện thử nghiệm 01 giải pháp về bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho đội ngũ quản lý tài chính tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba hướng nghiên cứu cụ thể:
Các hướng nghiên cứu về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính
Về mặt lịch sử lý luận quốc tế, tác giả trích dẫn Wilhelm Von Humboldt (1810) với nguyên lý tự do giảng dạy và tự do học tập không phụ thuộc vào can thiệp hành chính của Nhà nước; Sursock & H. Trends (2010) với báo cáo của Hiệp hội Đại học Châu Âu chỉ ra mối liên hệ tuyến tính giữa chất lượng của đại học công lập và mức độ tự chủ được trao; Tom Christensen nghiên cứu về cải cách quản trị đại học chỉ ra xu thế chuyển dịch từ tự chủ hình thức sang tự chủ thực chất, trong đó các trường chủ động khai thác nguồn lực tài chính thay vì dựa hoàn toàn vào tài trợ công. Các nghiên cứu tổng hợp kinh nghiệm tại Mỹ, Anh, Trung Quốc, Pháp, Đức, Singapore, Ấn Độ khẳng định tự chủ tài chính tạo môi trường cạnh tranh và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu tiêu biểu được tác giả tổng thuật bao gồm: Hayden và Thiep (2006, 2007) phân tích thách thức trong việc từ bỏ cơ chế kiểm soát trực tiếp của cơ quan quản lý và rào cản nhận thức về tự chủ; Đặng Văn Du (2004) với luận án về giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học; Lê Phước Minh (2005) nghiên cứu hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học; Nguyễn Anh Thái (2008) về hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học; Đề tài nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2008) về đề án chuyển đổi cơ chế tài chính Đảng sang thực hiện Luật Ngân sách nhà nước; Nguyễn Thu Hương (2014) về quản lý tài chính chương trình chất lượng cao; Lê Thị Minh Ngọc (2017) về đổi mới cơ chế tài chính tại các trường đại học công lập; Lê Đức Ngọc (2009) bàn về quyền tự chủ gắn liền với trách nhiệm xã hội và tiêu chí hiệu quả đào tạo.
Các nghiên cứu về cơ chế phân cấp quản lý tài chính
Về lý luận quốc tế, Clive A. Dimmock (1993) khẳng định yếu tố quyết định chất lượng giáo dục không nằm ở tổng số kinh phí mà ở phương thức và hiệu quả phân bổ ngân sách tại từng cơ sở. Nghiên cứu của Vương Thanh Hương (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) phân tích chính sách đa dạng hóa nguồn thu và cơ chế phân cấp tại Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Singapore. Tại Việt Nam, luận án của Lê Toàn Thắng (2008) chỉ ra 7 hạn chế cơ bản trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước, nổi bật là phương thức quản lý theo yếu tố đầu vào và việc tập trung thẩm quyền quyết định ở cấp Trung ương; Đỗ Thị Thu Hằng và Trần Thị Bích Liễu phân tích các rào cản hành chính, sự thiếu hụt công cụ đo lường hiệu quả chi và hạn chế trong việc huy động các bên liên quan tham gia lập kế hoạch tài chính.
Các nghiên cứu về mô hình quản lý tài chính
Tác giả tổng thuật mô hình quản lý công mới (New Public Management - NPM) hình thành từ thập kỷ 1980 tại Tây Âu, nhấn mạnh vào việc sử dụng công cụ thị trường, củng cố thước đo kết quả và chuyển giao quyền lực cho người đứng đầu cơ sở đào tạo. Luận án phân tích mô hình hoạt động tài chính đại học theo Hautman (2006) và ba mô hình tài chính đại học theo Hauptman (2007):
- Mô hình 1: Miễn học phí hoặc áp dụng học phí thấp (ngân sách nhà nước chiếm 90%, học phí chiếm 10%, từng áp dụng tại Mỹ thập niên 50-60 và các nước Bắc Âu).
- Mô hình 2: Học phí hoàn trả sau khi tốt nghiệp (thông qua tín dụng sinh viên và khấu trừ thuế thu nhập cá nhân sau tốt nghiệp, áp dụng tại Úc, Anh, Thái Lan; Phạm Phụ (2010) dẫn số liệu tỷ lệ hoàn vốn ở Trung Quốc là 55%, Hàn Quốc là 64%).
- Mô hình 3: Tăng học phí kết hợp với chính sách hỗ trợ người học (áp dụng tại Mỹ, New Zealand, Canada).
Ngoài ra, tác giả điểm cứu nghiên cứu của Tony Holloway (2006) về việc áp dụng mô hình quản trị tài chính doanh nghiệp vào đại học; báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2012) phân định giữa "tự chủ thực chất" (nội dung học thuật, nghiên cứu) và "tự chủ thủ tục" (ngân sách, nhân sự, mua sắm).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trên đã làm sáng tỏ lý luận chung về tự chủ và mô hình tài chính đại học công lập, nhưng chưa giải quyết bài toán quản lý tài chính trong một cơ chế đặc thù: đơn vị đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo trung, cao cấp thuộc hệ thống cơ quan Đảng, chuyển đổi từ cơ chế phân bổ tài chính Đảng sang Luật Ngân sách nhà nước, đồng thời chịu sự chi phối của mục tiêu chính trị kết hợp với yêu cầu tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng
Luận án tiếp cận khái niệm quản lý theo các chức năng cơ bản gồm Kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra (dẫn giải từ Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc). Khái niệm tài chính được phân định theo nghĩa rộng (hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hội) và nghĩa hẹp (sự dịch chuyển dòng tiền). Tài chính cơ sở đào tạo được xác định là quá trình phản ánh hoạt động các khoản thu, chi trong việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra giám sát nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo. Luận án làm rõ mối quan hệ giữa tài chính với 4 yếu tố đảm bảo chất lượng:
- Phát triển chương trình đào tạo.
- Quản lý hoạt động đào tạo (tuyển sinh, giảng dạy, học tập, đánh giá).
- Quản lý cơ sở vật chất và học liệu.
- Quản lý đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và người học.
Về mô hình phân cấp, luận án tích hợp mô hình phân cấp quản lý giáo dục đại học của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 1996) và mô hình quản lý tài chính chương trình chất lượng cao của Nguyễn Thu Hương (2014) để định hình mô hình phân cấp quản lý tài chính 3 cấp:
- Cấp I: Quản lý nhà nước cấp vĩ mô (Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
- Cấp II: Cơ quan quản lý trực tiếp (Bộ chủ quản, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố; trong trường hợp này là Đảng ủy khối, các ban đảng, ban giám đốc trung tâm).
- Cấp III: Cơ sở đào tạo đại học và các đơn vị thành viên (Khoa, Viện, Phòng Kế hoạch - Tài vụ, đơn vị trực thuộc) thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Về năng lực của đội ngũ quản lý tài chính, tác giả xác định 5 nhóm năng lực cần bồi dưỡng:
- Năng lực lập kế hoạch tài chính.
- Năng lực tổ chức thực hiện quản lý tài chính.
- Năng lực chỉ đạo, phân tích, đánh giá tài chính.
- Kỹ năng công nghệ thông tin và ngoại ngữ.
- Năng lực quản lý sự thay đổi và giám sát, đánh giá tài chính.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các cách tiếp cận: tiếp cận hệ thống, tiếp cận quản lý sự thay đổi, tiếp cận quản lý theo chức năng và tiếp cận hiệu quả. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu phối hợp giữa định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Ngân sách nhà nước, các Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP), các công trình nghiên cứu và tài liệu trong, ngoài nước.
- Phương pháp điều tra thực tiễn: Sử dụng bảng hỏi khảo sát gửi đến các nhóm đối tượng: cán bộ làm công tác quản lý tài chính, cán bộ quản lý giáo dục và giảng viên tại 3 cơ sở đào tạo.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp cán bộ lãnh đạo, nhà quản lý, giảng viên và viên chức tài chính để làm rõ các bất cập trong điều hành ngân sách.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tiếp nhận và xử lý số liệu báo cáo tài chính, báo cáo đào tạo, thu chi ngân sách giai đoạn 2011-2015 do các vụ, ban chức năng của Học viện cung cấp.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Ứng dụng phần mềm SPSS để thực hiện phân tích thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình) nhằm phản ánh nhận thức, mức độ đánh giá và sự cần thiết của các giải pháp.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm/quản lý: Tiến hành tổ chức thực nghiệm 01 giải pháp quản lý để đánh giá sự chuyển biến về năng lực đội ngũ trước và sau tác động.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý tài chính cơ sở đào tạo đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới và kinh nghiệm quốc tế
Chương 1 xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh cho đề tài. Tác giả làm rõ nội hàm của các khái niệm quản lý, tài chính, quản lý tài chính tại cơ sở giáo dục đại học. Chương này phân tích chi tiết cơ cấu thu - chi trong trường đại học công lập, bao gồm thu từ ngân sách nhà nước, thu sự nghiệp (học phí, lệ phí, dịch vụ đào tạo) và các nguồn thu hợp pháp khác; phân định chi thường xuyên (chi cho con người, chi nghiệp vụ chuyên môn, mua sắm sửa chữa) và chi không thường xuyên (đầu tư xây dựng cơ bản, nhiệm vụ khoa học công nghệ).
Tác giả đi sâu phân tích yêu cầu đổi mới quản lý tài chính theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW, phân tích mối quan hệ giữa tự chủ tài chính với tự chủ học thuật và tự chủ nhân sự. Chương 1 tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính thành hai nhóm: nhóm yếu tố khách quan (hệ thống pháp luật, cơ chế quản lý của cơ quan chủ quản, bối cảnh kinh tế - xã hội) và nhóm yếu tố chủ quan (nhận thức của lãnh đạo, năng lực chuyên môn của đội ngũ kế toán, quy chế chi tiêu nội bộ, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin). Phần kinh nghiệm quốc tế đúc kết các bài học về trao quyền tự chủ ngân sách, phân bổ tài chính theo kết quả đầu ra và kiểm soát chi tiêu thông qua công khai, minh bạch tại các đại học tiên tiến trên thế giới.
Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Chương này giới thiệu cơ cấu tổ chức của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và công bố kết quả điều tra thực trạng tại 3 cơ sở đào tạo: Trung tâm Học viện, Học viện Chính trị khu vực II và Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Dữ liệu khảo sát phản ánh thực trạng tài chính giai đoạn 2011-2015 và kết quả điều tra ý kiến cán bộ quản lý, giảng viên vào năm 2016.
Tổng hợp quy mô đào tạo và thực trạng các nguồn thu sự nghiệp (2011-2015):
Luận án trình bày quy mô đào tạo qua các Bảng 2.1 (Trung tâm Học viện), Bảng 2.2 (Học viện Chính trị khu vực II), Bảng 2.3 (Học viện Báo chí và Tuyên truyền). Về tài chính, Bảng 2.4, Bảng 2.5 và Bảng 2.6 tổng hợp số liệu nguồn thu và trích lập các quỹ. Ngân sách nhà nước cấp vẫn giữ tỷ trọng chi phối trong tổng kinh phí hoạt động, trong khi nguồn thu sự nghiệp có xu hướng tăng nhưng chưa đồng đều giữa các đơn vị.
| Cơ sở đào tạo |
Đặc điểm nguồn thu và quy mô |
Tình hình thu sự nghiệp và trích lập quỹ (2011-2015) |
| Trung tâm Học viện (TTHV) |
Đào tạo cao cấp lý luận chính trị, sau đại học; phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước cấp. |
Nguồn thu sự nghiệp ngoài ngân sách chiếm tỷ trọng thấp; nguồn trích lập quỹ phát triển sự nghiệp hạn chế. |
| Học viện Chính trị khu vực II |
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khu vực phía Nam; kết hợp ngân sách nhà nước và các lớp bồi dưỡng theo hợp đồng. |
Thu sự nghiệp có chuyển biến tích cực qua các hợp đồng liên kết đào tạo; việc trích lập các quỹ được duy trì hàng năm. |
| Học viện Báo chí và Tuyên truyền |
Đào tạo đại học chính quy, sau đại học và các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí - truyền thông. |
Nguồn thu học phí, lệ phí và hoạt động sự nghiệp dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất trong 3 cơ sở; quỹ khen thưởng, phúc lợi, phát triển sự nghiệp có quy mô lớn hơn. |
Thực trạng chi đào tạo và đội ngũ quản lý tài chính:
Theo Bảng 2.7 và Bảng 2.8, các khoản chi sự nghiệp đào tạo tại cả 3 cơ sở tập trung phần lớn vào chi thường xuyên cho con người (lương, phụ cấp, thu nhập tăng thêm) và chi nghiệp vụ chuyên môn; tỷ lệ chi cho nghiên cứu khoa học, đổi mới chương trình và đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn.
Bảng 2.9 và Bảng 2.10 phản ánh trình độ của đội ngũ quản lý tài chính và mức độ nhận thức của cán bộ, giảng viên. Đa số viên chức làm công tác tài chính có trình độ chuyên môn kế toán, tài chính nhưng hạn chế về kỹ năng phân tích dự báo tài chính đại học và ứng dụng phần mềm quản lý tích hợp. Nhận thức của giảng viên và cán bộ quản lý cấp khoa/phòng về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính chưa đầy đủ, nhiều cá nhân vẫn duy trì tư duy bao cấp.
Thực trạng thực hiện các chức năng quản lý tài chính:
- Công tác lập kế hoạch (Bảng 2.16): Kế hoạch ngân sách chủ yếu lập theo phương pháp phân bổ đầu vào truyền thống dựa trên số lượng biên chế và chỉ tiêu đào tạo giao, chưa gắn kết quả thực hiện với dự toán chi tiêu trung hạn.
- Tổ chức thực hiện và chỉ đạo: Cơ chế phân cấp quản lý tài chính chưa triệt để, quyền hạn quyết định chi tiêu của các khoa, ban chuyên môn còn bị hạn chế bởi nhiều tầng nấc phê duyệt tại Trung tâm Học viện.
- Kiểm tra, đánh giá và công khai tài chính (Bảng 2.11, 2.12, 2.13, 2.14, 2.15): Mức độ tham gia của cán bộ quản lý và giảng viên vào quá trình giám sát ngân sách còn hình thức; việc công khai tài chính chủ yếu thực hiện qua các kỳ hội nghị cán bộ công chức cuối năm, mức độ cung cấp số liệu chi tiết tới các đơn vị cấp dưới chưa thường xuyên.
Đánh giá tổng quát:
- Mặt mạnh: Đảm bảo đầy đủ nguồn kinh phí phục vụ các nhiệm vụ chính trị, đào tạo và nghiên cứu khoa học được giao; vận hành đúng các quy định hiện hành của Nhà nước về quản lý ngân sách; từng bước hình thành quy chế chi tiêu nội bộ.
- Điểm yếu: Nguồn thu sự nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng; công tác phân cấp chưa thực sự giải phóng tính chủ động của các cơ sở trực thuộc; quy trình giám sát nội bộ còn mang tính thụ động; năng lực tham mưu của đội ngũ quản lý tài chính chưa cao.
- Thách thức: Áp lực cắt giảm ngân sách bao cấp trực tiếp từ Nhà nước trong khi yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và hội nhập ngày càng cao; rào cản về cơ chế chính sách giữa quy định quản lý tài chính Đảng và Luật Ngân sách nhà nước.
Chương 3: Giải pháp quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới
Dựa trên kết quả khảo sát, tác giả xác định các nguyên tắc đề xuất giải pháp: bảo đảm tính chính trị và định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm tính pháp lý; bảo đảm tính hiệu quả, tiết kiệm; bảo đảm tính đồng bộ, khả thi. Luận án đề xuất hệ thống 7 giải pháp cụ thể:
- Tổ chức hoạt động nâng cao nhận thức của cán bộ, viên chức, giảng viên về tầm quan trọng trong quản lý tài chính theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm: Quán triệt sâu rộng các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về tự chủ đại học, thay đổi tư duy bao cấp, làm rõ quyền lợi và trách nhiệm của từng cá nhân trong việc sử dụng tiết kiệm các nguồn kinh phí.
- Phân cấp quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm: Rà soát, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của Giám đốc Học viện, thủ trưởng các cơ sở đào tạo thành viên và trưởng các khoa, phòng, ban; trao quyền chủ động giao dự toán và điều hành chi tiêu nội bộ cho các cơ sở trực thuộc.
- Chỉ đạo xây dựng kế hoạch thu, chi tài chính tại các cơ sở đào tạo: Đổi mới quy trình lập dự toán từ phương pháp dựa trên yếu tố đầu vào sang phương pháp lập kế hoạch ngân sách dựa trên kết quả đầu ra; xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn 3-5 năm gắn với chiến lược phát triển của Học viện.
- Triển khai hiệu quả kế hoạch quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo: Đa dạng hóa các nguồn thu hợp pháp (mở rộng dịch vụ bồi dưỡng theo nhu cầu xã hội, khai thác hiệu quả cơ sở vật chất, hợp tác nghiên cứu khoa học); thực hiện nghiêm quy chế chi tiêu nội bộ, triệt để tiết kiệm các khoản chi hành chính để tái đầu tư chuyên môn.
- Chỉ đạo xây dựng quy trình giám sát thực hiện nguồn tài chính tại các cơ sở đào tạo: Thiết lập quy trình giám sát thường xuyên, liên tục đối với các dòng tiền; phát huy vai trò giám sát của Ban Thanh tra nhân dân, Hội đồng trường/Học viện và sự tham gia của cán bộ, giảng viên.
- Chỉ đạo xây dựng quy chế kiểm tra, kiểm soát trong quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo: Hoàn thiện các chế tài kiểm tra định kỳ và đột xuất; thực hiện kiểm toán nội bộ độc lập trước khi quyết toán; minh bạch hóa và công khai định kỳ các báo cáo tài chính theo đúng quy định.
- Tổ chức bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ quản lý tài chính và cán bộ quản lý khoa, phòng, ban: Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng tập trung vào 5 nhóm năng lực cốt lõi: lập dự toán, phân tích báo cáo tài chính, quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ.
Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi:
Tác giả tiến hành khảo nghiệm mức độ cấp thiết (Bảng 3.1) và mức độ khả thi (Bảng 3.2) của 7 giải pháp thông qua việc xin ý kiến chuyên gia, cán bộ quản lý và giảng viên. Kết quả thống kê mô tả cho thấy cả 7 giải pháp đều đạt điểm trung bình đánh giá ở mức cao và rất cao, thể hiện sự đồng thuận về tính cấp thiết và khả năng đưa vào ứng dụng thực tiễn.
Thực nghiệm giải pháp:
Luận án tiến hành thực nghiệm giải pháp thứ 7 ("Tổ chức bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ quản lý tài chính đáp ứng yêu cầu đổi mới") tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền:
- Mẫu thực nghiệm: Bao gồm cán bộ chuyên trách làm công tác tài vụ, kế toán và một số cán bộ quản lý khoa, phòng được phân bố theo Biểu đồ 3.3.
- Bảng 3.3 và Bảng 3.4 thống kê kết quả đánh giá năng lực của đối tượng trước và sau khi tham gia khóa bồi dưỡng nghiệp vụ. Kết quả định lượng chỉ ra sự gia tăng có ý nghĩa thống kê về kỹ năng lập kế hoạch dự toán, khả năng xử lý chứng từ trên hệ thống phần mềm và nhận thức về kiểm soát rủi ro tài chính, khẳng định tính hiệu quả thực tế của giải pháp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học trong bối cảnh thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
- Xác lập khung phân tích mô hình quản lý tài chính 3 cấp (cấp quản lý nhà nước vĩ mô, cấp cơ quan chủ quản, cấp cơ sở đào tạo thực thi), chỉ rõ mối quan hệ tương hỗ giữa tài chính với các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo (chương trình, hoạt động đào tạo, cơ sở vật chất, đội ngũ).
- Nhận diện và hệ thống hóa 5 nhóm năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết của đội ngũ cán bộ quản lý tài chính trong các cơ sở giáo dục đại học công lập chuyển đổi cơ chế tự chủ.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, có căn cứ số liệu khoa học về quản lý tài chính tại 3 đơn vị nòng cốt thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Trung tâm Học viện, Học viện Chính trị khu vực II, Học viện Báo chí và Tuyên truyền) trong giai đoạn 2011-2015 và đợt khảo sát năm 2016.
- Chỉ ra các nút thắt thực tế trong cơ chế quản lý tài chính của hệ thống Học viện: sự phân cấp chưa đồng bộ, tỷ trọng chi tiêu thường xuyên còn nặng tính bao cấp đầu vào, công tác công khai tài chính còn hình thức và năng lực phân tích tài chính của đội ngũ cán bộ còn hạn chế.
- Đề xuất hệ thống 7 giải pháp quản lý tài chính có tính hệ thống, gắn kết từ khâu nhận thức, phân cấp, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm soát đến nâng cao năng lực con người.
- Minh chứng tính khả thi và hiệu quả can thiệp của giải pháp bồi dưỡng năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý tài chính thông qua việc thiết kế và đo lường thực nghiệm tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Các kiến nghị đề xuất từ tác giả
- Đối với Đảng và Nhà nước: Tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập đặc thù; ban hành cơ chế tài chính linh hoạt giúp các trường thuộc hệ thống cơ quan Đảng vừa bảo đảm nhiệm vụ chính trị, vừa chủ động mở rộng nguồn thu sự nghiệp hợp pháp.
- Đối với Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo: Hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật trong đào tạo; chuyển dần phương thức giao ngân sách theo khối lượng đầu vào sang cơ chế đặt hàng đào tạo và phân bổ ngân sách gắn liền với kiểm định chất lượng đầu ra.
- Đối với Ban Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Tăng cường phân cấp thẩm quyền tài chính cho các cơ sở trực thuộc; kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy tài vụ; hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ thống nhất; đầu tư hệ thống phần mềm quản lý tài chính đồng bộ trong toàn hệ thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Theo các giới hạn nghiên cứu được tác giả công bố trong văn bản, luận án còn một số điểm giới hạn:
- Về phạm vi không gian: Khảo sát thực tiễn chỉ được thực hiện tại 3 đơn vị đại diện gồm Trung tâm Học viện, Học viện Chính trị khu vực II và Học viện Báo chí và Tuyên truyền; chưa thể bao quát toàn bộ các cơ sở đào tạo khác trong toàn bộ hệ thống Học viện (như Học viện Chính trị khu vực I, khu vực III, khu vực IV).
- Về phạm vi thời gian: Khảo sát điều tra bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp tập trung trong khoảng thời gian từ tháng 01/2016 đến tháng 05/2016; các số liệu thống kê tài chính thứ cấp phản ánh giai đoạn 2011-2015.
- Về thực nghiệm giải pháp: Do giới hạn về nguồn lực và thời gian nghiên cứu, tác giả mới chỉ tiến hành thực nghiệm đối với 01 giải pháp cụ thể (giải pháp thứ 7 về bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho đội ngũ quản lý tài chính) tại 01 cơ sở là Học viện Báo chí và Tuyên truyền, chưa thực nghiệm đồng thời các giải pháp về phân cấp quản lý hay quy trình giám sát trên diện rộng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở là mở rộng phạm vi khảo sát sang tất cả các học viện khu vực còn lại; tiếp tục kiểm chứng hiệu quả thực tế của các giải pháp về phân cấp ngân sách và giám sát tài chính khi các cơ sở được giao quyền tự chủ hoàn toàn theo các nghị định mới của Chính phủ.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Đối với các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo các cơ sở giáo dục đại học công lập: Luận án cung cấp căn cứ thực tiễn để rà soát quy chế chi tiêu nội bộ, hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý tài chính và xây dựng phương án tự chủ, tự chịu trách nhiệm phù hợp với quy định hiện hành.
- Đối với hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các trường chính trị cấp tỉnh: Công trình là tài liệu tham khảo trực tiếp cho việc đổi mới cơ chế phân bổ dự toán, quy trình giám sát thu - chi và kế hoạch đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ phòng Kế hoạch - Tài vụ.
- Đối với học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Quản lý giáo dục và Quản lý công: Luận án là một mẫu hình nghiên cứu kết hợp giữa cơ sở lý luận quản lý chức năng với khảo sát thực nghiệm định lượng; các bảng hỏi khảo sát, bảng tổng hợp tiêu chí đánh giá mức độ tự chủ và quy trình thực nghiệm giải pháp là công cụ có thể kế thừa cho các công trình nghiên cứu tương đương.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát thực trạng quản lý tài chính tại những cơ sở đào tạo cụ thể nào?
Luận án tiến hành khảo sát thực trạng tại 3 cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đại diện cho các mô hình hoạt động khác nhau trong hệ thống:
- Trung tâm Học viện (đơn vị trung tâm điều hành, tập trung đào tạo cao cấp lý luận chính trị và sau đại học).
- Học viện Chính trị khu vực II (đơn vị đại diện cho các học viện chính trị khu vực tại miền Nam).
- Học viện Báo chí và Tuyên truyền (cơ sở giáo dục đại học trực thuộc có quy mô đào tạo đại học chính quy lớn và đa dạng nguồn thu sự nghiệp).
2. Mô hình quản lý tài chính mà luận án kế thừa và phát triển dựa trên những cơ sở lý thuyết nào?
Tác giả kế thừa mô hình phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục đại học của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 1996), mô hình quản trị công mới (NPM), mô hình 3 nguồn tài chính đại học của Hautman (2006) và mô hình khung quản lý tài chính chương trình đào tạo chất lượng cao của Nguyễn Thu Hương (2014). Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng mô hình phân cấp quản lý tài chính 3 cấp (Cấp I: Quản lý nhà nước; Cấp II: Cơ quan quản lý trực tiếp; Cấp III: Cơ sở đào tạo đại học và đơn vị thành viên) vận hành theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
3. Tác giả đề xuất bao nhiêu giải pháp và giải pháp nào đã được đưa vào thực nghiệm thực tế?
Tác giả đề xuất một hệ thống gồm 7 giải pháp quản lý tài chính. Trong đó, giải pháp thứ 7 – "Tổ chức bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ quản lý tài chính và cán bộ quản lý khoa, phòng, ban" – đã được đưa vào tổ chức thực nghiệm thực tế tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, với các số liệu kiểm định năng lực trước và sau thực nghiệm được thống kê tại Bảng 3.3 và Bảng 3.4.
4. Luận án xác định đội ngũ quản lý tài chính cần được nâng cao những nhóm năng lực cụ thể nào?
Luận án chỉ ra 5 nhóm năng lực cốt lõi cần đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ làm công tác tài chính để đáp ứng yêu cầu tự chủ:
- Năng lực lập kế hoạch tài chính.
- Năng lực tổ chức thực hiện quản lý tài chính.
- Năng lực chỉ đạo, phân tích và đánh giá tài chính.
- Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ.
- Năng lực quản lý sự thay đổi và giám sát, phân tích tài chính.
5. Khảo sát thực tế của luận án được tiến hành trong khoảng thời gian nào và sử dụng công cụ xử lý dữ liệu gì?
Khảo sát lấy ý kiến thực tế qua bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp được thực hiện từ tháng 01/2016 đến tháng 05/2016 đối với cán bộ quản lý tài chính, cán bộ quản lý giáo dục và giảng viên. Số liệu tài chính thứ cấp phục vụ phân tích thực trạng được thu thập trong giai đoạn 2011-2015. Các dữ liệu định lượng thu được từ phiếu hỏi được xử lý và phân tích thống kê mô tả bằng phần mềm SPSS.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới" của tác giả Nguyễn Thị Hồng Mến đã hoàn thành mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về tự chủ và phân cấp quản lý tài chính trong các cơ sở giáo dục đại học. Thông qua nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2011-2015 và kết quả điều tra thực nghiệm năm 2016 tại 3 cơ sở đào tạo trực thuộc, công trình đã phản ánh thực trạng phân bổ ngân sách, công tác lập dự toán, tổ chức chi tiêu và hạn chế trong hoạt động kiểm tra, công khai tài chính. Hệ thống 7 giải pháp quản lý được đề xuất có tính đồng bộ, trong đó việc thực nghiệm giải pháp bồi dưỡng năng lực chuyên môn tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã cung cấp bằng chứng thực tiễn về tính khả thi của mô hình. Đây là tài liệu khoa học có giá trị phục vụ công tác quản lý tài chính và hoạch định chính sách tự chủ tại hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cũng như các cơ sở đào tạo đại học công lập tương đương.