phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình khoa học đã công bố liên quan đến luận án. Luận án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý tài chính cơ sở đào tạo đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới và kinh nghiệm quốc tế 9 z Chƣơng 2: Thực trạng quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Chƣơng 3: Giải pháp quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới 10 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CƠ SỞ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1. Tổng quan nghiên cứu quản lí tài chính cơ sở đào tạo đại học Hiện nay, vấn đề tự chủ đại học đang đƣợc bàn luận sôi nổi, trong đó các nghiên cứu tập trung vào các hƣớng chính là TC-TCTN, cơ chế phân cấp tài chính, cơ chế, mô hình QLTC. Do đó, phần tổng quan này đề cập khái quát những hƣớng nghiên cứu nhƣ sau: 1.
Những nghiên cứu về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính TC-TCTN về tài chính là một đặc điểm quan trọng của tổ chức CSĐT đại học. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này đã nảy sinh từ những năm đầu của thế kỷ XIX, cụ thể nhƣ sau: - Năm 1810, tác giả Wilhelm Von Humboldt đã nghiên cứu hình thành nên nguyên lý về tự chủ, với những nguyên lý tác giả đƣa ra tiền đề về tự do giảng dạy và tự do học tập; tức là GDĐH không cần có sự can thiệp của Nhà nƣớc [92, tr. cho rằng: “Khái niệm, bản chất, nội dung tự chủ đƣợc quy định rõ ràng, mọi cơ sở giáo dục đều có thể thực hiện”. Nhà nƣớc luôn tạo mọi hành lang pháp lý để mọi cơ sở giáo dục đều thực hiện tốt quyền tự chủ.
Tự chủ tạo cho nhà trƣờng có một môi trƣờng quản lý thuận lợi để phát triển tự do học thuật, tập trung nhân tài và huy động mọi nguồn lực tài chính [99]. - Các trƣờng đại học tại châu Âu đã có nhiều nghiên cứu đã quan tâm, sôi nổi với vấn đề QLTC thể hiện ở việc đƣợc trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm từ nửa đầu thế kỷ XXI nhƣ: Theo Sursock & H. Trends (2010): “Một thập kỷ của sự thay đổi trong giáo dục châu Âu, Hiệp hội đại học Châu Âu”chỉ ra một tiền đề cho những nghiên cứu về quyền tự chủ là chất lƣợng của các đại học công lập và các viện nghiên cứu, chất lƣợng có thể đƣợc cải tiến một cách tuyến tính so với mức độ tự chủ đƣợc trao [64, tr. - Nghiên cứu của Tom Christensen về “Cải cách quản trị đại học: Khả năng tự chủ nhiều hơn?”.
Tác giả bàn về những xu hƣớng cải cách quản lí công trong ĐT 11 z qua các giai đoạn khác nhau. Tự chủ đại học hiện nay đƣợc chuyển từ tự chủ hình thức ở cấp độ thấp sang tự chủ thực sự ở mức cao hơn. Vấn đề này dựa trên hai yếu tố, một là thay đổi những quan điểm về tổ chức, văn hóa và môi trƣờng nội tại, hai là phác thảo xu hƣớng cải cách nhà trƣờng. Nhiều CSĐT đại học đã chủ động tìm kiếm khai thác các nguồn lực tài chính thay vì sự bảo trợ từ tài chính công nhƣ trƣớc đây [100, tr.
Ở nƣớc ta hiện nay, đầu tƣ GD-ĐT luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc rất quan tâm và coi là quốc sách hàng đầu. Từ sự quan tâm đó nên trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề QLTC. Các công trình nghiên cứu này đã đề cập đến công tác QLTC theo hƣớng tự chủ tài chính, cơ chế đổi mới quan lí tài chính, đảm bảo chất lƣợng GD-ĐT nhƣ: thực hiện tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo hƣớng TC-TCTN, quản lí nhà nƣớc và tự chủ tài chính của các trƣờng đại học, bàn về quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GDĐH, giải pháp tự chủ tài chính tại các trƣờng đại học công lập. Một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề tự chủ và TNXH ở Việt Nam nhƣ: Hayden và Thiep (2006, 2007) trong “A 2020 vision for Vietnam” và “Institutional autonomy for HE in Vietnam” cho rằng sự đổi mới GDĐH Việt Nam gắn với đổi mới quản lí và đảm bảo tự chủ cho đại học.
Nghiên cứu chỉ rõ tự chủ đại học chịu thách thức không chỉ do sự miễn cƣỡng đối với việc từ bỏ sự kiểm soát trực tiếp của một bộ phận quản lí GDĐH mà còn do sự nhận thức chƣa đầy đủ bản chất thực sự của tự chủ, cả những đòi hỏi liên quan đến trách nhiệm xã hội cũng nhƣ cơ chế quản lí hiệu quả trong điều kiện nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, cho cơ quan quản lí còn hạn chế. Nghiên cứu này đã chỉ ra một số khiếm khuyết trong quản lí dẫn tới sự thiếu tự chủ thực chất, nhƣng chƣa đƣa ra cách khắc phục tháo gỡ cơ chế đối với cơ quan chủ quản [90, tr. Các công trình nghiên cứu áp dụng cơ chế thực hiện TC-TCTN đƣợc khái quát theo các vấn đề sau: Thứ nhất: các nghiên cứu đã đƣa ra cơ sở lí luận, kinh nghiệm tự chủ và tự 12 z chịu trách nhiệm ở các nƣớc trên thế giới nhƣ Mỹ, Anh, Trung Quốc, Pháp, Đức, Singapo, Ấn độ.với các nội dung nhƣ: TC-TCTN, các điều kiện, tiêu chí, nội dung để thực hiện tự chủ, đƣa ra các mối quan hệ tài chính với các yếu tố tác động. Trong các quốc gia thì Mỹ và Singapo thực hiện quyền tự chủ cao nhất.
Sự tự chủ này cho phép các trƣờng đại học linh hoạt trong giảng dạy và nghiên cứu, đa dạng các nguồn lực tài chính, cơ chế tự chủ tạo ra môi trƣờng cạnh tranh, khích lệ tinh thần nghiên cứu sử dụng các nguồn lực tài chính có hiệu quả và có những giải pháp, hƣớng đi phù hợp với sự phát triển. Các tác giả tập trung khái quát những vấn đề cơ sở và bài học kinh nghiệm có thể áp dụng vào Việt Nam [80]. Thứ hai, đáp ứng yêu cầu đổi mới, GDĐH Việt Nam đã đặt ra nhiều mục tiêu: hiệu quả, chất lƣợng, số lƣợng và sự công bằng, chuẩn hóa. Để đạt các mục tiêu đó, đòi hỏi nhà nƣớc phải phân cấp quản lí, hoàn thiện cơ chế QLTC cho các CSĐT đại học.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nhƣ: Luận án tiến sĩ: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tƣ tài chính cho ĐTĐH ở Việt Nam” của tác giả Đặng Văn Du, Học viện Tài chính, 2004; Luận án tiến sĩ: “Hoàn thiện chính sách tài chính cho GDĐH Việt Nam” của tác giả Lê Phƣớc Minh, Học viện Ngân hàng, 2005; Luận án tiến sĩ: “Hoàn thiện cơ chế QLTC đối với các trƣờng đại học ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Anh Thái, Học viện Tài chính, 2008; Đề tài NCKH: “Đề án triển khai thực hiện chuyển đổi cơ chế tài chính Đảng sang thực hiện Luật NSNN đối với Học viện CTQG HCM từ năm 2008”, Học viện CTQG HCM, 2008; Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện cơ chế QLTC đối với các chƣơng trình ĐT chất lƣợng cao trong các trƣờng đại học công lập Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thu Hƣơng, Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2014; Luận án tiến sĩ “ Đổi mới cơ chế tài chính đối với các trƣờng đại học công lập ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Minh Ngọc, Học viện Ngân hàng, năm 2017. Các tác giả này đã đi sâu phân tích: khái niệm, nội dung, bản chất của phân cấp, cơ chế QLTC, quá trình thực hiện tự chủ. Một số quan điểm cho rằng thực hiện quyền tự chủ là yêu cầu khách quan nhƣng không tách rời với việc giải trình và chịu trách nhiệm của các CSĐT đại học giữa các bên liên quan (xã hội, cha mẹ SV, đơn vị tuyển dụng, SV). 13 z Tác giả Lê Đức Ngọc (2009): “Bàn về quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở ĐTĐH” đã chỉ ra rằng: nền kinh tế thị trƣờng đòi hỏi mọi CSĐT đại học phải sản xuất nguồn nhân lực chất lƣợng cao, phải thực hiện trách nhiệm xã hội qua việc đảm bảo thỏa mãn tiêu chí hiệu quả với nội hàm: chất lƣợng cao, hiệu quả cao, phù hợp với công bằng xã hội” [20; 45; 50; 51; 59;.] Thứ ba,đánh giá thực trạng về tình hình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của một số trƣờng đại học nhƣ: Trƣờng Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Thái Nguyên, Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Học viện QLGD, Học viện công nghệ bƣu chính viễn thông, Học viện Âm nhạc Huế,.
các công trình nghiên cứu cả hệ thống các CSĐT đại học trong những năm qua đã nêu ra những thực trạng thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm tài chính. Những tác động tích cực của cơ chế tự chủ tài chính đã tạo điều kiện để các trƣờng chủ động nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài chính gắn với đảm bảo chất lƣợng hoạt động nhƣ đa dạng hóa các nguồn thu, tăng nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, nguồn quà biếu, quà tặng từ các tổ chức và cá nhân.tiết kiệm chi, thực hành chống lãng phí, nâng cao đời sống của CBQL, GV tại các CSĐT này. Bên cạnh đó, các tác giả đã chỉ ra về những tác động tiêu cực của cơ chế TC-TCTN nhƣ trong giải quyết mối quan hệ theo văn bản hƣớng dẫn pháp quy và quyền thực tế; cơ chế phân bổ TC-TCTN chƣa có tiêu chí; phân bổ ngân sách cho chi thƣờng xuyên nặng tính bình quân, các văn bản nhà nƣớc cơ bản còn chƣa phù hợp [20; 45; 50; 51; 59.] Từ những vấn đề nghiên cứu trên, cho thấy rằng vấn đề cơ chế TC-TCTN tài chính đại học nói chung và của các cơ sở đào tạo nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhận diện về quan điểm, chủ trƣơng, cơ chế triển khai và các tác động tích cực cũng nhƣ những hạn chế, khó khăn khi triển khai thực hiện ở các cơ sở đào tạo.