chương 1 đã tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất, khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến quản lý tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước. Thứ hai, tổng kết, đánh giá những điểm đạt được và khoảng trống của các công trình nghiên cứu đã có về thời gian, không gian nghiên cứu và nội dung nghiên cứu. Thứ ba, xác định những vấn đề tập trung nghiên cứu trong luận án trên cơ sở tổng kết, đánh giá những điểm đạt được và những khoảng trống của các công trình nghiên cứu đã có với những lý luận về quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước, cập nhật thời gian nghiên cứu thực trạng quản lý tài chính và không gian nghiên cứu tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. 15 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 2.
Khái quát về doanh nghiệp nhà nước 2. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước 2. Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước Hiện nay không có định nghĩa thống nhất chung về Doanh nghiệp nhà nước. Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước được phát triển dựa trên nhiều tiêu chí, mục tiêu khác nhau trên thế giới.
Theo Witker (1979), doanh nghiệp nhà nước được định nghĩa là “cơ quan có sự kết hợp của ba yếu tố thiết yếu: (1) sự hiện diện của chính quyền, (2) tính đặc trưng, (3) có sự tham gia vào một hoạt động kinh tế.” Định nghĩa này đã đáp ứng được mục tiêu của doanh nghiệp nhà nước về kinh tế hơn là khía cạnh pháp lý và quyền lực quản lý doanh nghiệp, là yếu tố quan trọng trong quá trình tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp nhà nước. Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (2020), “Doanh nghiệp nhà nước là bất kì thực thể thương mại nào mà chính phủ có quyền kiểm soát đáng kể thông qua quyền sở hữu trực tiếp và gián tiếp”. Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong kiểm soát và quản lý doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp nhà nước bao gồm (1) doanh nghiệp được thành lập và hoạt động từ 100% vốn nhà nước, (2) doanh nghiệp mà chính phủ có cổ phần sở hữu, (3) những tổ chức mà chính phủ sở hữu cổ phần thiểu số, nhưng chính phủ vẫn bỏ phiếu kiểm soát trong các quyết định quản lý tài chính quan trọng. Trong thời kỳ phát triển ban đầu với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, doanh nghiệp nhà nước chỉ bao gồm duy nhất các tổ chức kinh doanh hoàn toàn do Nhà nước hoặc các cơ quan chức năng của Nhà nước cấp vốn, quyết định bộ máy hoạt động và tổ chức hành chính, nghĩa là các quyết định về vốn, nhân sự và quyền quản lý quá trình sản xuất kinh doanh và phân phối kết quả hoàn toàn thuộc về Nhà nước.
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước dần được mở rộng hơn, 16 không chỉ các doanh nghiệp mà Nhà nước toàn quyền nắm giữ vốn chủ sở hữu mà còn bao gồm doanh nghiệp do Nhà nước chiếm phần vốn chi phối. Theo trình bày trên đây về doanh nghiệp nhà nước, luận án xin được khái niệm về doanh nghiệp nhà nước như sau: “Doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết”. Theo đó, khái niệm trên đây bao gồm các nội dung chủ yếu như sau: doanh nghiệp nhà nước chịu sự chi phối và kiểm soát của Nhà nước trong tổ chức hoạt động kinh doanh, tổ chức bộ máy nhân lực cũng như nguồn vốn, tài sản của doanh nghiệp. Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.
Thứ hai, vốn điều lệ là vốn được xác định khi thành lập doanh nghiệp nhà nước, vốn điều lệ có thể tăng hoặc giảm trong quá trình kinh doanh do nhà nước quyết định. Thứ ba, việc nắm giữ vốn điều lệ trên 50%, nhà nước có thực quyền quyết định kế hoạch sản xuất – kinh doanh, quản lý tài chính của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhà nước được thành lập nhằm hai mục tiêu quan trọng là phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - đảm bảo an sinh xã hội - an ninh quốc phòng của quốc gia và mục tiêu lợi nhuận. Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước được thành lập và hoạt động với danh mục sản phẩm và ngành nghề kinh doanh do Nhà nước quy định.
Những sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh này đóng vai trò trọng yếu trong phát triển đất nước hoặc do nhà nước độc quyền nắm giữ và quản lý như năng lượng, sản phẩm giáo dục,… góp phần thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện của quốc gia. Thứ hai, tương tự như hình thức doanh nghiệp khác, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước được quản lý và ra quyết định dựa trên quyết định vận hành dòng tiền nhằm tối đa hóa lợi nhuận, đảm bảo hoạt động lâu dài của doanh nghiệp. Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (100%) hoặc sở hữu phần vốn góp chi phối (trên 50% nhưng dưới 100% vốn điều lệ). Doanh nghiệp nhà nước có nhiều hình thức tồn tại.
Nếu doanh nghiệp nhà nước do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thì có các loại hình doanh nghiệp như: công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty 17 trách nhiệm hữu hạn nhà nước. Nếu doanh nghiệp do nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ thì có thể tồn tại dưới các loại hình doanh nghiệp sau: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Doanh nghiệp nhà nước chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của doanh nghiệp. Nhà nước chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi tài sản góp vốn vào doanh nghiệp.
Vai trò của doanh nghiệp Nhà nước Doanh nghiệp nhà nước hình thành từ ba lý do chủ yếu. Thứ nhất, độc quyền tự nhiên. Do hiệu quả hoạt động của một số ngành dựa vào nguồn lực hữu hạn của quốc gia và có tác động đến toàn thể cộng đồng như phân phối điện, nước, sản phẩm giáo dục - đào tạo phổ cập bắt buộc, doanh nghiệp nhà nước kinh doanh các ngành nghề độc quyền của nhà nước góp phần đảm bảo không xảy ra chiếm dụng tài nguyên quốc gia và bóc lột người tiêu dùng. Thứ hai, thất bại của thị trường vốn.
Một số lĩnh vực kinh doanh thiết yếu cho sự phát triển của xã hội nhưng yêu cầu về vốn cao trong khi mức độ rủi ro cao, gây khó khăn trong tổ chức và huy động vốn từ các doanh nghiệp tư nhân. Điều này đặt ra sự cần thiết thành lập doanh nghiệp với nguồn vốn cấp từ nhà nước. Thứ ba, công bằng xã hội. Doanh nghiệp nhà nước thực hiện nhiệm vụ của nhà nước tại các khu vực vùng sâu vùng xa, khu vực mang lại lợi nhuận thấp, đảm bảo dịch vụ công như điện, nước, cơ sở hạ tầng, giáo dục được mọi công dân tiếp cận.
Lý do tồn tại doanh nghiệp nhà nước trên đây, có thể thấy rằng doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng đối với bộ máy quản lý nhà nước, cộng đồng và nền kinh tế, cụ thể như sau: Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước là cơ sở của nhà nước trong thực hiện can thiệp vào thị trường nhằm mang lại lợi ích cho nền kinh tế bằng cách tối đa hóa sự dịch chuyển nguồn lực vào các ngành có yêu cầu vốn rất lớn. Những ngành công nghiệp và ngành liên quan đến phục vụ mục tiêu cộng đồng rất cần thiết cho sự phát triển bền vững của một quốc gia, nhưng đầu tư đòi hỏi thời gian dài, đầu tư thiết bị tổng thể lớn mà không có doanh nghiệp nhà nước thì không biết đi về đâu? Thông qua doanh nghiệp nhà nước, các ngành đặc thù này được cấp vốn đầu tư cơ sở hạ tầng, đi đầu trong ứng dụng về khoa học - công nghệ, cơ sở hạ tầng. 18 Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng để duy trì sự ổn định của xã hội. Doanh nghiệp nhà nước cung cấp những sản phẩm, dịch vụ phục vụ cộng đồng, những sản phẩm cần thiết cho sự phát triển chung của đất nước, từ đó đảm bảo các yếu tố công bằng và an sinh xã hội trong phát triển kinh tế.
Không chỉ thế, khi mức độ ổn định xã hội thấp, các doanh nghiệp nhà nước vẫn góp phần hữu ích khi tạo việc làm cho người lao động Thứ ba, doanh nghiệp nhà nước tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Trên phương diện kinh tế, cũng như các thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp nhà nước hoạt động phải thực hiện mục tiêu lợi nhuận. Thứ tư, NXBGDVN có ngành sản xuất – kinh doanh mang đặc thù riêng. Một là, sản xuất và kinh doanh sách giáo khoa, sách tham khảo có tính chất thời vụ, việc bán sản phẩm sách giáo khoa dồn vào quý 3 hàng năm.
Thời gian này, NXBGDVN dồn hết nguồn lực để bao phủ thị trường cả nước để kiểm tra, đôn đốc và nắm thông tin về khả năng tiêu thụ, thực tế tiêu thụ, kịp thời có biện pháp khắc phục những phát sinh từ thực tế, đảm bảo đủ sách giáo khoa phục vụ kịp thời cho năm học mới. Hai là, nắm bắt khả năng và nhu cầu sách giáo khoa cho năm học kế tiếp để có kế hoạch sản xuất đảm bảo đáp ứng nhu cầu thị trường cả nước. Hình thức hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước hoạt động dưới hình thức là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, và công ty cổ phần. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là những công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, bao gồm công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con và Công ty độc lập.
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tất cả thành viên đều là công ty nhà nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và các thành viên khác là tổ chức được Nhà nước ủy quyền góp vốn, hay công ty do Nhà nước nắm hơn 50% vốn điều lệ. Với hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, do có nhiều 19 thành phần tham gia góp vốn và chi phối, bên cạnh mục tiêu cộng đồng, doanh nghiệp nhà nước coi trọng hơn về mục tiêu lợi nhuận nhằm thỏa mãn lợi ích của tất cả các bên góp vốn.