CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1.1 Khái quát về bảo hiểm thất nghiệp 1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì: Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là một trong các chế độ của bảo hiểm xã hội (là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của bên tham gia BHXH có sự bảo trợ của nhà nước theo pháp luật nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội). Thực tế cho thấy ở mọi xã hội không phải lúc nào nhu cầu làm việc của các cá nhân đều được đáp ứng đầy đủ. Trong xã hội luôn có một bộ phận người không có việc làm, bị mất việc làm, thiếu việc làm.
Tuy nhiên, tất cả những người đó có được coi là thất nghiệp hay không? Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong độ tuổi lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm với mức lương phổ biến trong thị trường lao động. Còn người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không có việc làm, đang đi tìm việc làm, có điều kiện là họ làm ngay. Tại Việt Nam, Bộ Luật lao động năm 2012, ngoài việc quy định về việc làm, người có việc làm, người thiếu việc làm, đã quy định về thất nghiệp và người thất nghiệp. Người không có việc làm là người hoàn toàn không làm công việc gì để hưởng lương, tiền công hay lợi nhuận vì nhiều lý do khác nhau như không tìm được việc làm, không muốn làm việc, không có nhu cầu làm việc mặc dù trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động.
Người lao động có việc làm là người trong độ tuổi lao động, đang làm việc 7 trong các ngành kinh tế quốc dân, với thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người lao động có việc làm. Tùy theo tình hình kinh tế-xã hội và đặc điểm của từng nhóm ngành nghề, nhà nước quy định mức thời gian làm việc chuẩn để được coi là có việc làm. Người lao động thiếu việc làm là người có thời gian làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm việc thêm. Mức thời gian chuẩn tùy thuộc vào ngành nghề và tính chất công việc do nhà nước quy định cụ thể cho từng thời kỳ.
Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi có một số người trong lực lượng lao động, có khả năng lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương tối thiểu. Người thất nghiệp là những người từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, đến 55 tuổi đối với nữ, làm việc theo hợp đồng lao động, có nhu cầu làm việc, vì những lý do khác nhau không có việc làm và đang đi tìm việc làm. Theo định nghĩa này, ở Việt Nam người được coi là thất nghiệp bao gồm: - Người lao động đang làm việc bị mất việc vì các lý do sau: Doanh nghiệp phá sản; doanh nghiệp sắp xếp lại sản xuất hoặc áp dụng công nghệ mới; doanh nghiệp giải thể theo quy định của pháp luật; người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn, bị sa thải, hợp đồng lao động hết thời hạn mà doanh nghiệp thôi không tiếp tục ký hợp đồng. - Người lao động mới đến tuổi lao động, học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp hoặc thôi học nhưng chưa tìm được việc làm.
- Bộ đội xuất ngũ, thanh niên xung phong hết nghĩa vụ quân sự, người lao động đi xuất khẩu lao động về nước chưa có việc làm. - Những người nghỉ việc tạm thời, không có thu nhập do tính thời vụ sản xuất. Những người không bị coi là người thất nghiệp bao gồm: - Những người có việc làm nhưng hiện tại không làm việc vì một lý do nào đó như nghỉ phép, nghỉ ốm, tai nạn. - Những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang đi học hoặc đang thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước, làm nội trợ hoặc không có nhu cầu về việc làm.
Như vậy, không phải tất cả những người không có việc làm đều là người thất nghiệp. Chỉ những người không có việc làm, trong độ tuổi lao động, có nhu cầu tìm việc làm mới được coi là người thất nghiệp. Người thất nghiệp được quy 8 định trong Bộ luật Lao động của Việt Nam bao gồm cả những người lao động đã từng đi làm và cả những người chưa từng đi làm, có nhu cầu tìm việc nhưng hiện không có việc làm.2 Đối tượng tham gia và thụ hưởng bảo hiểm thất nghiệp * Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp Người lao động tham gia BHTN Theo quy định tại khoản 1 điều 43 Luật việc làm số 38/2013/QH13 ngày 16/11/2013 của Quốc hội, người lao động phải tham gia BHTN khi làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc sau đây: - Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; - Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn; - Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 đến dưới 12 tháng. Theo quy định tại khoản 2 điều 43 Luật việc làm số 38/2013/QH13 ngày 16/11/2013 của Quốc hội, người lao động theo quy định của khoản 1 điều này mà đang hưởng lương hưu, giúp việc gia đình thì không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Người sử dụng lao động tham gia BHTN: Theo quy định tại khoản 3 điều 43 Luật việc làm số 38/2013/QH13 ngày 16/11/2013 của Quốc hội, người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Cơ quan nhà nước; đơn vị sự nghiệp công lập; đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động. * Đối tượng thụ hưởng bảo hiểm thất nghiệp Người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp bị thất nghiệp thì được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây: - Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp: Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trái pháp luật; hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng. 9 - Đối với hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn và xác định thời hạn thì người lao động phải đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Riêng đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng thì người lao động phải đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.
- Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm Dịch vụ Việc làm. - Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp: Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù, ra nước ngoài định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; chết.3 Mục tiêu và nguyên tắc bảo hiểm thất nghiệp * Mục tiêu của bảo hiểm thất nghiệp Bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách vô cùng quan trọng, sự ra đời của bảo hiểm thất nghiệp gắn với mục tiêu an sinh xã hội. Thứ nhất: Hỗ trợ về thu nhập cho người lao động bị thất nghiệp tuỳ theo loại hình thất nghiệp. Bảo hiểm thất nghiệp sẽ hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị thất nghiệp, tránh trường hợp họ rơi vào tình trạng túng quẫn, nghèo đói.
Giúp họ ổn định phần nào cuộc sống trong thời gian tìm công việc mới. Thứ hai: Giúp ổn định nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái thông qua duy trì sức mua của lực lượng lao động bị mất việc làm. Người lao động bị thất nghiệp, họ túng quẫn, nghèo đói, cuộc sống khó khăn và đương nhiên điều đó làm cho các tệ nạn xã hội phát sinh, dẫn đến bất ổn nền kinh tế xã hội. Có bảo hiểm thất nghiệp sẽ phần nào hạn chế được điều đó, giúp lao động vẫn duy trì được cuộc sống cơ bản nhất để tìm kiếm việc làm mới, đảm bảo ổn định nền kinh tế.
Thứ ba: Hỗ trợ cải cách doanh nghiệp. Nhờ có chính sách bảo hiểm thất nghiệp mà các doanh nghiệp hay còn gọi là người sử dụng lao động giảm được một phần chi phí hỗ trợ cho người lao động bị mất việc. Đồng thời thông qua chính sách bảo hiểm thất nghiệp doanh nghiệp cần tuyển lao động phù hợp và người lao động đang tìm việc có cơ hội gặp nhau nhiều hơn. Từ đó doanh nghiệp giải quyết được nhu cầu lao động một cách dễ dàng và phù hợp.
10 Thứ tư: Duy trì, khuyến khích nâng cao kỹ năng nghề của người lao động bị mất việc làm, nâng cao kỹ năng tìm kiếm việc làm cho người lao động có nhu cầu việc làm. Bảo hiểm thất nghiệp ngoài việc hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động thất nghiệp còn hỗ trợ học phí giúp người lao động nâng cao tay nghề, kỹ năng tìm kiếm việc làm của họ từ đó sẽ tìm được công việc tốt, phù hợp với hơn.