ĐẶT VẤN ĐỀ Trang thiết bị y tế là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chất lƣợng của công tác y tế, hỗ trợ tích cực cho ngƣời thầy thuốc trong công tác phòng bệnh và chữa bệnh. Trang thiết bị y tế đƣợc chia thành 2 nhóm lớn là trang thiết bị phục vụ chẩn đoán (TTBCĐ) và trang thiết bị phục vụ điều trị, chăm sóc. Cùng với sự tiến bộ vƣợt bậc của nền y học trên thế giới, nhu cầu chẩn đoán sớm, nhanh, chính xác ngày càng cần thiết, vì vậy đã tạo ra những TTBYT hiện đại, đa chủng loại, liên tục đƣợc cải tiến, hỗ trợ thiết thực cho công tác chăm sóc sức khỏe con ngƣời. Cùng với đó, đòi hỏi các cơ sở y tế phải có năng lực quản lí tốt để có thể đầu tƣ, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Số liệu của Ngân hàng thế giới cho thấy: với 1,5 tỉ USD đầu tƣ TTBYT toàn cầu có tới 30% thiết bị y tế hiện đại ở một số cơ sở y tế không đƣợc sử dụng, số còn lại có tới 25-35% thời gian trong tình trạng không thể hoạt động. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lí không hiệu quả từ việc lập kế hoạch, mua sắm TTB và quản lí sử dụng, vận hành (1, 2) Tại Việt Nam trong những năm gần đây, ngành y tế đã có những bƣớc chuyển biến tốt về mặt công nghệ, các cơ sở khám chữa bệnh từ trung ƣơng đến địa phƣơng đã đƣợc đầu tƣ các thiết bị y tế tƣơng đối hiện đại, ngang tầm với nền y tế trong khu vực. Tuy nhiên, hầu hết các bệnh viện còn thiếu hoặc chƣa đồng bộ về các TTBYT. Nhiều TTBYT đang sử dụng chƣa đƣợc định kì kiểm định, hiệu chuẩn, bảo dƣỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tƣ mới.
Năng lực của cán bộ kĩ thuật bảo trì, sửa chữa TTBYT chƣa theo kịp những đổi mới về kĩ thuật và công nghệ (3). Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai là bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y tế, bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 3 năm 2013 với quy mô 700 giƣờng bệnh, gồm 37 khoa, phòng và 706 cán bộ. Trung bình mỗi năm khám chữa bệnh cho khoảng trên 200.000 lƣợt bệnh nhân ngoại trú và gần 30.000 lƣợt bệnh nhân nội trú. Về trang thiết bị, bệnh viện có 354 loại thiết bị trên tổng số 2.120 trang thiết bị, trong đó có nhiều TTBCĐ có giá trị lớn, hiện đại nhƣ máy CT scanner 32 dãy, máy Spect, máy MRI… Tuy vậy, nhiều TTB đƣợc sử dụng từ năm 2013 đến nay đã gần hết thời gian khấu hao nên xuống cấp, phải sửa chữa nhiều, một số trang thiết bị hỏng không có linh kiện hoặc linh kiện để sửa chữa lớn không hiệu quả so với đầu tƣ mới, cùng với thực trạng chung 2 của cả nƣớc là việc kiểm định, hiệu chuẩn chƣa đúng định kì, một số trang thiết bị đƣợc đầu tƣ lớn nhƣng hiệu quả sử dụng chƣa cao, công tác tham mƣu quản lí trang thiết bị đặc biệt là quản lí sử dụng còn nhiều bất cập chƣa sát với thực tế và tình hình tự chủ bệnh viện hiện nay.
Trƣớc những yêu cầu trên, chúng tôi nhận thấy cần có nghiên cứu về thực trạng quản lí sử dụng các TTBYT nói chung và TTBCĐ nói riêng, đặc biệt các trang thiết bị chẩn đoán tại các khoa cận lâm sàng chính, nơi chiếm trên 80% tổng giá trị các trang thiết bị chẩn đoán trong toàn bệnh viện nhƣ khoa Chẩn đoán hình ảnh, Thăm dò chức năng, Hoá sinh - Vi sinh, Huyết học - Truyền máu vì đây là những khoa có các thiết bị chẩn đoán quan trọng, giá trị tài sản lớn, có thể xảy ra nhiều rủi ro cao, ảnh hƣởng trực tiếp tới quy trình khám chữa bệnh chung của bệnh viện. Với thời gian và nguồn lực cho phép, chúng tôi xin đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Thực trạng quản lí sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại 4 khoa cận lâm sàng Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2020” nhằm mục đích giúp các nhà quản lí của BVĐK tỉnh Lào Cai trong việc tăng cƣờng hiệu quả sử dụng, kéo dài tuổi thọ, đầu tƣ hiệu quả TTBYT nói chung và TTBCĐ nói riêng. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng quản lí sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại 4 khoa cận lâm sàng Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2020 2.
Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến việc quản lí sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại 4 khoa cận lâm sàng Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2020 4 CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm và phân loại trang thiết bị y tế 1. Khái niệm về trang thiết bị y tế Theo Nghị định 169/2018/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2018 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 36/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về quản lí trang thiết bị thì: “Trang thiết bị y tế là các loại thiết bị, dụng cụ, vật liệu, vật tƣ cấy ghép, thuốc thử và chất hiệu chuẩn in vitro, phần mềm (software) đáp ứng đồng thời các yêu cầu sau đây: - Đƣợc sử dụng riêng lẻ hay phối hợp với nhau theo chỉ định của chủ sở hữu trang thiết bị y tế để phục vụ cho con ngƣời nhằm một hoặc nhiều mục đích sau đây: + Chẩn đoán, ngăn ngừa, theo dõi, điều trị và làm giảm nhẹ bệnh tật hoặc bù đắp tổn thƣơng, chấn thƣơng; + Kiểm tra, thay thế, điều chỉnh hoặc hỗ trợ giải phẫu và quá trình sinh lí; + Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống; + Kiểm soát sự thụ thai; + Khử khuẩn trang thiết bị y tế, bao gồm cả hóa chất sử dụng trong quy trình xét nghiệm; + Cung cấp thông tin cho việc chẩn đoán, theo dõi, điều trị thông qua biện pháp kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể con ngƣời. - Không sử dụng cơ chế dƣợc lí, miễn dịch hoặc chuyển hóa trong hoặc trên cơ thể ngƣời hoặc nếu có sử dụng các cơ chế này thì chỉ mang tính chất hỗ trợ để đạt mục đích quy định tại điểm a khoản này” (4) Hiện nay, nhiều loại TTBYT hiện đại đang đƣợc sử dụng trong lĩnh vực khám chữa bệnh cho con ngƣời.
Đó là thành quả của việc ứng dụng khoa học công nghệ, đã giúp cho việc chẩn đoán, điều trị bệnh một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn, hiệu quả cao. Do vậy ít gây ra biến chứng cho ngƣời bệnh. Xét về phƣơng diện tinh thần, TTBYT không những giúp cho thầy thuốc thêm vững tin và yên tâm trong khám bệnh, chữa bệnh, mà còn giúp cho ngƣời bệnh thêm lạc quan, hy vọng hơn trong việc đẩy lùi căn bệnh đang điều trị. 5 Mỗi loại trang thiết bị y tế có đặc điểm riêng và đƣợc sử dụng linh hoạt cho các đối tƣợng khác nhau.
Đặc điểm TTBYT thể hiện: - Trang thiết bị y tế là tài sản cố định có giá trị cao: do các thiết bị này sử dụng các công nghệ tiên tiến, nghiên cứu công phu để phục vụ con ngƣời nên thƣờng có giá trị cao, đắt tiền. - Trang thiết bị y tế tại bệnh viện tuyến tỉnh thƣờng đƣợc hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau nhƣ: nguồn ngân sách nhà nƣớc, các loại viện trợ, quỹ phát triển sự nghiệp của bệnh viện, vốn ODA, các đề án, dự án, liên doanh, liên kết, cho, biếu, tặng, mƣợn…. - Trang thiết bị y tế ở Việt Nam phần lớn đƣợc nhập khẩu từ các nƣớc có nền khoa học tiên tiến, hiện đại, đòi hỏi ngƣời sử dụng phải cập nhật và nâng cao trình độ thƣờng xuyên. - Trang thiết bị y tế bao gồm nhiều loại khác nhau, có tính năng sử dụng khác nhau: + Loại thiết bị cá nhân: TTBYT đƣợc sử dụng tại gia đình (Homecare) dựa trên kĩ thuật y tế viễn thông (Telemedicine) rất thích hợp với hoàn cảnh các nƣớc đang phát triển và xu hƣớng quốc tế.
Số lƣợng tiêu thụ lớn vì có thể sử dụng linh hoạt ở những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa lẫn thành thị và có thể xuất khẩu đến các nƣớc đang phát triển, chúng mang đến lợi nhuận kinh tế cao, rất hấp dẫn đối với doanh nhân, doanh nghiệp. Việc sản xuất chúng không cần đòi hỏi công nghệ quá cao hay đầu tƣ lớn, phù hợp với các công ty mới khởi nghiệp. Thêm vào đó, loại trang thiết bị (TTB) này có thể giúp chúng ta phát triển một hệ thống y tế điện tử (E-Healchcare). Đây là một phƣơng cách vừa đáp ứng nhu cầu cấp bách vừa đặt nền tảng cho một nền y tế hiện đại.
+ Loại TTBYT đơn giản: Là loại thiết bị đơn giản dễ sử dụng, kết hợp với những thiết bị khác đƣợc sử dụng trong bệnh viện, đặc biệt là đơn vị y tế nhỏ. + Loại thiết bị nghiên cứu: Là những thiết bị đáp ứng nhu cầu trong các phòng nghiên cứu khoa học. Mặc dù hiệu quả kinh tế không phát huy đƣợc ngay nhƣng đây là cách hỗ trợ và xây dựng một hƣớng phát triển lâu dài, nhằm tăng cƣờng năng lực cho bệnh viện. 6 + Loại TTBYT thuộc cảm biến y sinh: Là những thiết bị đƣợc thiết kế trên nền kiến thức khoa học, kĩ thuật cao nhƣ công nghệ nano và vi mạch.
Nó đƣợc trang bị đối với các bệnh viện lớn, kết hợp vừa nghiên cứu, vừa khám, chữa bệnh. Phân loại và nguyên tắc phân loại trang thiết bị y tế * Theo chức năng hoạt động ngƣời ta có thể phân ra 10 nhóm TTBYT nhƣ sau(5): - Nhóm I: Thiết bị chẩn đoán hình ảnh bao gồm: Máy chụp X-quang các loại, máy chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hƣởng từ, chụp mạch số hoá xoá nền, máy chụp cắt lớp positron (PET/CT), máy siêu âm, máy Spect… - Nhóm II: Thiết bị chẩn đoán điện tử sinh lí bao gồm: Máy điện tâm đồ (ECG), điện não đồ (EEG), điện cơ đồ, máy đo lƣu huyết não. - Nhóm III: Thiết bị labo xét nghiệm bao gồm: Máy phân tích máu tự động, máy miễn dịch, máy điện giải đồ, máy hóa sinh tự động…. - Nhóm IV: Thiết bị cấp cứu hồi sức, gây mê, buồng mổ bao gồm: Máy thở, máy gây mê, máy theo dõi (monitoring), máy tạo nhịp tim, máy sốc tim, dao mổ điện, thiết bị tạo oxy.
- Nhóm V: Thiết bị vật lí trị liệu nhƣ điện phân, điện sóng ngắn, tia hồng ngoại, laser trị liệu. - Nhóm VI: Thiết bị quang điện tử y tế nhƣ Laser CO2, Laser YAG, Nd, Ho, Laser hơi kim loại, phân tích máu bằng Laser.