Chương 1: TỎNG QUAN TAI LIEU 1. Khái niệm về quản lý TTBYT 1. Tổng quan về TTBYT Theo tô chức y tế thế giới (WHO), các hợp phần đầu vào của hệ thống y tế thế giới bao gồm: nhân lực y tế, hệ thống thông tin, các sản phẩm y tế, vắc xin, TTBYT, công nghệ và cơ sở hạ tầng, cơ chế tài chính, quản lý điều hành hệ thống y tế, và cung ứng dịch vụ y tế. Trong đó TTBYT là hợp phần đầu vào không thé thiếu của hệ thống y tế thế giới [33].
Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục áp dụng cách tiếp cận theo khung hệ thống y tế với 6 cầu phần do WHO khuyến cáo có điều chỉnh một số điểm nhỏ cho phù hợp với tình hình của Việt Nam. Trong khung hệ thống y tế Việt Nam, có 5 hợp phan dau vào: nhân lực; tài chính y tế; hệ thống thông tin y tế; được- TTBYT, công nghệ; quản lý và quản trị [4]. TTBYT được WHO định nghĩa là công cụ, thiết bị, hoặc máy móc được sử dụng trong phòng ngừa, chẩn đoán hoặc điều trị bệnh tật, hoặc để phát hiện, đo lường, phục hồi hoặc thay đổi cầu trúc hoặc chức năng của cơ thể con người cho những mục tiêu y tế [35]. TTBYT bao gồm tất cả các dụng cụ, thiết bị kỹ thuật, phương tiện vận chuyền, vật tư chuyên dụng và thông dụng phục vụ cho các hoạt động phòng bệnh, khám và chữa bệnh của ngành y tế.
Khái niệm quản lý TTBYT và tổ chức quản lý TTBYT theo vòng đời Quản lý TTBYT: là chức năng và hoạt động của hệ thống có tô chức thuộc lĩnh vực TTBYT đảm bảo giữ gìn một cơ cấu ôn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và đảm bảo những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó, nhằm phát triển khai thác và sử dụng có hiệu quả TTBYT được đầu tư trong ngành [10]. WHO đã đưa ra hướng dẫn và khuyến nghị đặc biệt đối với các nước đang phát triển làm thế nào để tổ chức quản lý các thiết bị y tế đang còn hoạt động. Tại BVTƯ-TN, quy trình tổ chức quản lý TTBYT dựa theo hướng dẫn của bộ tài liệu “Lam thé nao đề tổ chức quản lý” (How to manage — 6 Guide) [29]. Tuy nhiên, quy trình này đã được điều chỉnh cho phủ hợp với từng bệnh viện.
Theo đó, những công đoạn trong vòng đời TTBYT cần phải tuân theo các nguyên tắc quản lý cơ bản như sau: Đề xuất, lập kế hoạch dự toán, kinh phí, lựa chọn công nghệ; Đấu thầu và mua sắm; lắp đặt, chạy thử, đào tạo sử dụng và quản lý; vận hành an toàn; bảo dưỡng và sửa chữa; thanh lý [22], [25], [23]. [30], [31] Chu trình quản lý TTBYT được thể hiện theo hình dưới đây: Đề xuất, lập 6S. hoạch dự toán, kinh phí, lựa chọn công nghệ Thanh lý Đâu thâu Và mua sam Bảo dưỡng và sửa chữa Lắp đặt, chạy Vận hành thử và đào tạo ` sử dụng và an toàn es quan ly Hinh 1.1 Chu trinh quan ly TTBYT [35] 1. Khai niém quan ly sir dung TTBYT Quan ly TTBYT bao gồm nhiều khâu: quản lý đầu tư, quan ly sir dung, quản lý sửa chữa, quản lý khấu hao, và thanh lý.
TTBYT bao gồm nhiều loại máy móc thiết bị đặc thù. Tuy nhiên cũng như các loại máy móc thiết bị khác, trong quá trình sử dụng và vận hành, sẽ dần xuất hiện những vấn đề kỹ thuật hoặc hư hỏng TTBYT. Quản lý sử dụng tốt sẽ giúp phòng ngừa hoặc xử lý kịp thời các hư hỏng phát sinh, và do đó sẽ làm tăng thời gian sử dụng và khai thác tối đa tiềm năng của TTBYT. Quản lý sử dụng TTBYT bao gồm hai phần chính: Một là, vận hành thiết bị an toàn, đúng quy trình để phục vụ công tác khám chữa bệnh; Hai là, đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất như phòng đặt máy, nhiệt độ môi trường, điều kiện vệ sinh đáp ứng được các yêu cầu của TTBYT về vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa theo quy trình hoặc khi phát sinh hư hỏng.
Ngoài ra, công tác quản lý sử dụng cũng phải đảm bảo rằng TTBYT luôn trong tình trạng sẵn sàng có thể sử dụng, an toàn và được cài đặt phù hợp để đáp ứng nhu cầu chăm sóc bệnh nhân tại mỗi cơ sở y té [8], [27]. Quản lý sử dụng TTBYT cũng phải tuân theo các nguyên tắc chung trong chu trình quản lý TTBYT. Trong đó quản lý sử dụng TTBYT tập trung vào một số khâu chính như sau: Lắp đặt, chạy thứ, đào tạo sử dụng và quản lý Công đoạn này có vai trò quan trọng trong khâu chuẩn bị cho việc khai thác sử dụng TTBYT hiệu quả tại mỗi cơ sở y tế. Do đó cần phải chuẩn bị kỹ lưỡng kế từ khi lắp đặt, chạy thử cho đến khi triển khai sử dụng.
Cụ thể, trước khi lắp đặt, cần phải đảm bảo cơ sở hạ tầng có thê đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của TTBYT. Sau đó là bước chạy thử để kiểm tra tính an toàn của thiết bị đối với người sử dụng, bệnh nhân và môi trường. Việc đảo tạo người sử dụng có vai trò quan trọng trong việc vận hành an toàn cũng cũng như nâng cao tuôi đời của TTBYT. Do đó, tất cả những ai tham gia vận hành, khai thác thiết bị đều phải được đào tạo kỹ lưỡng trước khi được bàn giao sử dụng TTBYT.
Việc đào tạo sử dụng cũng bao gồm đào tạo về kỹ thuật bảo trì và sửa chữa TTBYT cho KTV: Ngoài ra, các thông tin về máy và người quản lý sử dụng cũng phải được lưu dữ trong CSDL của phòng VTTTBYT [23]. Vận hành an toàn Những tiêu chí chính ở nội dung này bao gồm quản lý người sử dụng, đào tạo lại, phát triển kỹ năng, dự trữ vật tư tiêu hao, báo cáo và cập nhật thông tin sử dụng. Thực hiện tốt nguyên tắc vận hành an toàn không những đảm bảo thiết bị luôn trong trạng thái sẵn sàng hoạt động mà còn tối ưu hoá tiềm năng của TTBYT [30]. Bảo trì và sửa chữa Những tiêu chí phải đảm bảo để thực hiện công đoạn này gồm đảm bảo guồn tài chính, nhân lực sửa chữa bảo dưỡng, có kế hoạch và báo cáo bảo dưỡng sửa chữa cụ thể.
Trong đó, năng lực thực hiện của KTV đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo trì và sửa chữa. Do vậy, KTV phải được trang bị đầy đủ tài liệu kỹ thuật, và được đào tạo thường xuyên để cập nhật kiến thức và kỹ năng chuyên môn. Bên cạnh đó, mỗi cơ sở y tế cũng cần xây dựng một CSDL đầy đủ về TTBYT, bao gồm cả mã nhận dạng TTBYT, và thường xuyên cập nhật thông tin sửa chữa bảo dưỡng [31]. Tình hình quản lý sử dụng TTB y tế.
Thực trạng công tác quản lý sử dụng TTBYT trên thế giới Theo kết quả khảo sát của WHO, năm 2014, trên 174 quốc gia [35], 41% số quốc gia không có tiêu chuẩn quốc gia hoặc danh mục khuyến cáo cho các loại cơ sở y tế. Có đến 90 quốc gia (chiếm 52%) không có chính sách về TTBYT. Trong đó có 35% quốc gia đó, các chính sách về TTBYT nằm trong chương trình sức khỏe quốc gia. Cũng theo đó, hơn một nửa những nước có thu nhập thấp hoặc trung bình không có chính sách về TTBYT, trong khi 65% những nước có thu nhập cao có chính sách về TTBYT [35].
Cũng theo báo cáo này, có đến 27% số nước được khảo sát không có khung luật pháp, và 15% không có thông tin về lĩnh vực này. Trong số các quốc gia có khung luật pháp cho lĩnh vực TTBYT, phần lớn là những nước phát triển (chiếm 84%). Tuy nhiên, chỉ có 39% số quốc gia có cơ quan chuyên trách thâm định thiết bị y tế trực thuộc Bộ Y tế [35]. Một số nghiên cứu trước đây về công tác quản lý sử dụng TTBYT trên thế giới cho những kết quả khác nhau.
Theo một nghiên cứu ở Ấn Độ, 77% thiết bị y tế được sử dụng phù hợp, 23% thiết bị y tế được sử dụng không phù hợp [19]. Một nghiên cứu ở tại những bệnh viện ở Ethiopia cho thấy, chỉ có 64,8% thiết bị y tế đang còn sử dụng được, 35,2% số thiết bị đã hỏng hoặc không được sử dụng. Cũng trong nghiên cứu này, theo kết quả những cuộc phỏng vấn những nhân viên y tế sử dụng và quản lý thiết bị y tế cũng đã tìm ra những vấn để còn tồn tại trong công tác quản lý và sử dụng những thiết bị y tế. Cụ thể, về chất lượng của thiết bị y tế đã và đang sử dụng, những người được phỏng vấn cho rằng vấn đề không chỉ nằm ở cách sử dụng mà còn nằm ở những chủng loại thiết bị đã mua.
Một người cán bộ quản lý thiết bị y tế được phỏng vấn cho biết “Nếu cần những thiết bị chất lượng, chúng tôi phải trả nhiều tiền hơn; Những thiết bị mua với giá rẻ sẽ rất nhanh hỏng; ví dụ máy do huyét áp sau khi đọc kết quả được 1 lần, nó sẽ cho một kết quả sai cho những lần tiếp theo”. Về nguyên nhân của việc thiết bị không sử dụng được, vấn đề chủ yếu nằm nhân viên y tế ở các cơ sở sử dụng không được tập huấn sử dụng một cách kỹ lưỡng. Một người nhân viên y tế được phong van cho rang “Mdy X- quang thường không được sử dụng, lý do không rõ ràng nhưng tôi cho rằng bởi vì những máy móc đó hiện đại mà nhân viên y tế lại không được làm quen với nó trong quá trình tập huẳn, nên không sử dụng được” [L7]. Một nghiên cứu khác ở Án Độ cho thấy tần suất sử dụng của các máy móc chẩn đoán hình ảnh có giá trị cao chiếm 58,1% trong tổng số ngày làm việc của một năm, của thiết bị chân đoán hình ảnh có giá trị trung bình chiếm 62,1% và của thiết bị có giá trị thấp chiếm 60,4% tổng số ngày làm việc của một năm [18].
Theo một nghiên cứu khác, gần 50% số thiết bị y tế sử dụng không hợp lý. Chỉ có 4 trong số 12 thiết bị được bảo dưỡng định kỳ theo kế hoạch (4 tháng/ lần), chiếm 33,3% [21]. Thực trạng công tác quản lý sử dụng TTBYT tại Việt Nam Một cách tiếp cận tương tự với thế giới cũng đã được đề cập đến bởi cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là Vụ TTB và Công trình Y tế - Bộ Y tế.