CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ BỆNH ALZHEIMER VÀ AMYLOID BETA 1. Tổng quan về bệnh Alzheimer Năm 1901, bác sĩ tâm thần và thần kinh học người Đức là Alois Alzheimer đã xác định được những triệu chứng cơ bản của bệnh nhân nữ Auguste D.1) bị mắc chứng bệnh mất trí nhớ, một chứng bệnh phổ biến ở người già. Ông đã theo dõi bệnh nhân này cho tới khi bà qua đời vào năm 1906.
Cũng trong năm đó, ông đã công bố những triệu chứng cơ bản của bệnh trong một hội nghị về hội chứng về thần kinh. Những triệu chứng của bệnh bao gồm: suy giảm khả năng ngôn ngữ, mất khả năng phối Hình 1. Bệnh nhân Auguste D hợp các cử động phức tạp của cơ thể, suy giảm trí nhớ và thậm chí là mất trí, thay đổi hành vi ứng xử như đa nghi, ảo tưởng, mất khả năng giao tiếp xã hội. Ông cũng chỉ ra rằng đây là một căn bệnh không thể chữa khỏi, mang tính thoái hóa và gây tử vong.
Sau đó, bệnh được đặt theo tên ông là Alzheimer. Trong thế kỷ 20, bệnh Alzheimer được dùng để định bệnh cho những người mất trí ở tuổi 45 đến 65 (“lẫn trước khi già” hay “lẫn sớm”). Những người ở tuổi lớn hơn bị mất trí được coi là chuyện thông thường do tuổi cao làm “não tê cứng”. Tuy nhiên, trong những năm 1970 – 1985, những nghiên cứu khoa học nhận thấy người mắc bệnh mất trí ở các lứa tuổi khác nhau lại có các triệu chứng lâm sàng giống nhau.
Ở giai đoạn sớm, bệnh nhân Alzheimer thường biểu hiện những triệu chứng lâm sàng tương đồng nhau là không có khả năng nhớ các sự việc vừa xảy ra. Khi Học viên: Nguyễn Kiến Thạch 12 LUẬN VĂN CAO HỌC VẬT LÝ KỸ THUẬT- KHÓA 2011B bệnh tiến triển thì xuất hiện các triệu chứng bao gồm: sự nhầm lẫn, khó chịu, thay đổi tâm trạng, mất khả năng phân tích ngôn ngữ, mất trí nhớ dài hạn, ngày càng suy giảm các giác quan ngày càng tăng [7]. Dần dần, bệnh nhân bị mất đi một số chức năng thường ngày và dẫn tới tử vong. Bệnh thường xảy ra ở những người cao tuổi (trên 65 tuổi) và có thời gian biểu hiện bệnh khá dài khoảng từ 8 đến 10 năm.
Các giai đoạn phát triển của bệnh Theo tiến sĩ Barry Reisberg 1 thì quá trình phát triển của bệnh Alzheimer được chia thành các giai đoạn và không phải bất cứ bệnh nhân nào cũng đều trải qua những biểu hiện của toàn bộ các giai đoạn này [8]. Thông thường, các bệnh nhân sẽ chết trước khi bước sang giai đoạn cuối của bệnh Alzheimer do các bệnh truyền nhiễm khác như viêm phổi, nhiễm trùng… Bảy giai đoạn của bệnh bao gồm: Giai đoạn 1 - Không có biểu hiện suy yếu: Người bệnh hoàn toàn khỏe mạnh, không gặp vấn đề gì về trí nhớ, không có biểu hiện rõ ràng khi được chuyên gia y tế thăm khám. Giai đoạn 2 - Sự suy giảm nhận thức rất nhẹ: Ở giai đoạn này, hầu hết bệnh nhân đều rất khó để xác định chính xác bệnh khi đi thăm khám y tế hoặc có những biểu hiện đáng lo ngại về trí nhớ trước mặt bạn bè và gia đình. Họ có thể cảm thấy trí nhớ bị giảm sút, hay quên tên người, quên các từ ngữ, quên vị trí đặt các vật dụng thường ngày… Giai đoạn 3 - Sự suy giảm nhận thức nhẹ: Đây là giai đoạn đầu của bệnh.
Người bệnh bắt đầu thể hiện những sự thay đổi đáng lo ngại về trí nhớ khi giao tiếp với bạn bè và gia đình. Những thay đổi về trí nhớ có thể được xác định rõ khi bác sĩ tiến hành các bài kiểm tra về trí nhớ. Người bệnh gặp khó khăn trong việc tìm các từ ngữ chính xác, nhớ tên người mới gặp, hay làm mất những vật có giá trị, làm việc thiếu hiệu quả, gặp khó khăn trong việc lập kế hoạch và tổ chức công việc. Những 1 Giám đốc lâm sàng của New York University School of Medicine's Silberstein Aging and Dementia Research Center Học viên: Nguyễn Kiến Thạch 13 LUẬN VĂN CAO HỌC VẬT LÝ KỸ THUẬT- KHÓA 2011B dấu hiệu này cùng với sự giảm sút trí nhớ là những biểu hiện rõ ràng của bệnh Alzheimer.
Giai đoạn 4 - Sự suy giảm nhận thức vừa phải: Đây là giai đoạn giữa/nhẹ của bệnh Alzheimer. Ở giai đoạn này, người bệnh có sự thay đổi về suy nghĩ, trí nhớ và tư duy logic khi được các chuyên gia y tế thăm khám hoặc biểu hiện rõ rệt trước mặt bạn bè hoặc người thân. Người bệnh cảm thấy khó khăn hơn đối với những kỹ năng hàng ngày đòi hỏi sự phức tạp và tư duy như nấu ăn, lên kế hoạch, thanh toán hóa đơn tài chính… Họ có thể thay đổi tính cách như thờ ơ, lãnh đạm… trong các tình huống giao tiếp xã hội cần sự tư duy. Giai đoạn 5 - Sự suy giảm nhận thức tương đối nghiêm trọng: Đây là giai đoạn giữa/vừa phải của bệnh Alzheimer.
Người bệnh có những thay đổi lớn trong trí nhớ và suy giảm chức năng nhận thức. Lúc này, người bệnh cần một sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt của gia đình mới có thể hoàn thành được các hoạt động thường ngày như mặc quần áo hay tắm giặt. Người bệnh cảm thấy khó khăn khi nhớ lại các thông tin cá nhân như địa chỉ, số điện thoại và không phân biệt được ngày, tháng trong tuần và trong năm. Tuy nhiên, người bệnh vẫn có khả năng nhớ tên những người thân trong gia đình và tên của mình và ít gặp khó khăn lắm trong các vấn đề ăn uống và vệ sinh cá nhân thường ngày.
Giai đoạn 6 - Sự suy giảm nhận thức nghiêm trọng: Đây là giai đoạn tương đối nghiêm trọng của bệnh Alzheimer. Trong giai đoạn này, trí nhớ của người bệnh suy giảm trầm trọng hơn và có thể xuất hiện sự thay đổi lớn về tính cách. Họ không thể làm được những hoạt động sinh hoạt hàng ngày nếu không có sự giúp đỡ của các thành viên trong gia đình. Họ thường gặp ảo giác, nghi ngờ trong các hành vi hàng ngày, bị rối loạn giấc ngủ, và có thể đi lang thang trong nhà hoặc bị lạc đường.
Giai đoạn 7: Sự suy giảm nhận thức rất nghiêm trọng : Đây là giai đoạn cuối của bệnh. Người bệnh cần sự chăm sóc tuyệt đối của những người thân trong gia đình. Người bệnh mất dần khả năng ngôn ngữ, không thể tự mặc quần áo và thực hiện các sinh hoạt hàng ngày, hay nổi cáu. Người bệnh có những tổn thương lớn Học viên: Nguyễn Kiến Thạch 14 LUẬN VĂN CAO HỌC VẬT LÝ KỸ THUẬT- KHÓA 2011B trong não làm mất dần khả năng đi lại, đứng ngồi, xác định phương hướng.
Cơ bắp của ngời bệnh dần cứng lại và người bệnh gặp khó khăn trong việc nuốt thức ăn. Nếu tổn thương não nặng hơn, người bệnh có thể nằm liệt giường, hôn mê và chết. Ngoài ra, các tổn thương khác như viêm phổi là nguyên nhân chính dẫn tới cái chết của người bệnh do khi ăn người bệnh hít cả thức ăn vào trong phổi. Nguyên nhân Ở cấp độ tế bào, bệnh Alzheimer là một bệnh lý về thần kinh mà nguyên nhân là do sự mất dần của nơ-ron thần kinh một cách không kiểm soát, do đó, làm mất đi các chức năng của hệ thần kinh và các khớp thần kinh (xy-nap thần kinh) liên kết giữa các nơ-ron thần kinh với nhau.
Quá trình này diễn ra chậm ở các vùng não khác nhau. Vùng bị ảnh hưởng đầu tiên là vùng Hải mã (hippocampus), vùng này có chức năng ghi nhận thông tin mới và gợi lại trí nhớ cũ từ não trước. Sau đó, sự suy giảm tế bào não sẽ mở rộng ra vùng não trước, vùng đảm nhận các chức năng suy nghĩ, tình cảm, ngôn ngữ và logic.2 là hình ảnh của não người bình thường và não người bị bệnh Alzheimer. Ảnh mô phỏng não người.
a) Não bình thường. b) Não người bị bệnh Alzheimer [9] Học viên: Nguyễn Kiến Thạch 15 LUẬN VĂN CAO HỌC VẬT LÝ KỸ THUẬT- KHÓA 2011B Ở người bình thường, tại các vùng ở não trước và vùng hải mã cấu trúc của não không bị tổn thương do mất nơ-ron thần kinh nên ảnh mô phỏng cho thấy tất cả các phần não đều bình thường, hốc não nhỏ. Trong khi đó, với người bị bệnh Alzheimer, do có sự mất mát lớn các nơ-ron thần kinh bị nên các hốc não mở rộng ra ở tất cả các vùng. Việc mất nơ-ron thần kinh ở vùng hải mã làm cho khả năng ghi nhận thông tin mới cũng như lấy lại những thông tin từ trí nhớ vĩnh cửu gặp khó khăn, thậm chí là làm cho não mất chức năng ghi nhận và truyền đạt thông tin tới và từ não trước.
Bên cạnh đó, các tổn thương trong não trước sẽ làm suy giảm các chức năng mà nó đảm nhận như suy giảm trí nhớ, thay đổi nhân cách, suy nghĩ, tính logic và khả năng ngôn ngữ. Ảnh mô phỏng tế bào nơ-ron thần kinh. a) Nơ-ron của người bình thường; b) Nơ-ron của người bị bệnh Alzheimer với các mảng lão hóa Amyloid và đám rối sợi thần kinh [9]. Xét ở cấp độ phân tử, nguyên nhân gây ra bệnh Alzheimer là do sự tích tụ của các mảng lão hóa amyloid β ở bên ngoài nơ-ron thần kinh và các đám rối sợi thần kinh mà thành phần là các sợi protein TAU gắn kết với nhau ở bên trong tế bào nơ- ron (hình 1.
Học viên: Nguyễn Kiến Thạch 16 LUẬN VĂN CAO HỌC VẬT LÝ KỸ THUẬT- KHÓA 2011B Các chuỗi peptite Amyloid β (Aβ) ngắn, có độc tính sẽ liên kết với các thụ thể bề mặt của nơ-ron thần kinh, dẫn tới làm thay đổi cấu trúc của khớp thần kinh, hình thành lên các mảng lão hóa Aβ ở bên ngoài tế bào. Các mảng lão hóa Aβ này sẽ dần phá hủy cầu nối thần kinh liên tế bào, do đó ngăn cản sự dẫn truyền tín hiệu thần kinh giữa các nơ-ron bên trong não, làm mất dần nơ-ron thần kinh. Bên cạnh đó, trong mỗi nơ-ron thần kinh đều có một cấu trúc vi ống như một khung xương nâng đỡ tế bào. Các vi ống này hoạt động như các đường ống dẫn các chất dinh dưỡng và phân tử vật chất từ thân tế bào đến đầu kia của trục thần kinh và quay ngược trở lại.
Protein TAU đóng vai trò là tác nhân giúp ổn định cấu trúc vi ống khi được photpho hóa. Tuy nhiên, ở người bị bệnh Alzheimer, TAU bị thay đổi về mặt hóa học, trở nên bị photpho hóa quá nhiều; nó bắt cặp với các sợi TAU khác, tạo thành các đám rối sợi thần kinh và làm tan rã hệ thống vận chuyển của nơ-ron thần kinh.