CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG PHÒNG, CHỐNG COVID-19 TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Lý luận về ƯDCNTT trong quản lý nhà nước trên địa bàn cấp tỉnh 1. Khái niệm về CNTT, ƯDCNTT Công nghệ thông tin (CNTT) được hình thành từ khoa học máy tính, đây là một khái niệm khá rộng, nó bao hàm nhiều khái niệm khác nhau ở bên trong (phần mềm máy tính, hệ thống thông tin, phần cứng máy tính, ngôn ngữ lập trình…). CNTT ra đời với tư cách là một ngành khoa học ứng dụng hiện đại, phát triển qua nhiều thời kỳ với các quá trình từ khoa học máy tính đến Tin học và CNTT.
Theo Từ điển Wikipedia về CNTT thì nghĩa rộng và tổng quát nhất CNTT là việc sử dụng công nghệ hiện đại vào việc tạo ra, lưu trữ, truyền dẫn thông tin, xử lý, khai thác thông tin. Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 4 tháng 8 năm 1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội". CNTT gồm tất cả các nhóm ngành công nghệ (sử dụng hệ thống máy tính, phần mềm, và mạng lưới Internet) được sử dụng cho việc xử lý và phân phối dữ liệu, lưu trữ, thu thập, trao đổi và sử dụng thông tin dưới tất cả các hình thức dữ liệu. Trong đó, thông tin có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau.
Người ta có thể định lượng tin tức bằng cách đo độ bất định của hành vi, trạng thái. Xác suất xuất hiện một tin càng thấp thì độ bất ngờ càng lớn do đó lượng tin càng cao. Chất lượng của thông tin thường được đánh giá dựa trên các phương diện chủ yếu sau: 7 tính cần thiết, tính chính xác, độ tin cậy, tính thời sự. Khi tiếp nhận được thông tin, con người thường phải xử lý nó để tạo ra những thông tin mới, có ích hơn, từ đó có những phản ứng nhất định.
Trong lĩnh vực quản lý, các thông tin mới là các quyết định quản lý. Trong lĩnh vực CNTT, thông tin được hiểu là những tín hiệu, ký hiệu mang lại hiểu biết, nhận thức của con người. Trong máy tính thông tin được mã hóa theo những cách thức thống nhất để máy tính có thể đọc và xử lý được. Sau khi xử lý, thông tin được giải mã trở thành các tín hiệu mà con người có thể nhận thức được.
Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số. Hệ thống thông tin (Information System - IS) là một tập hợp các yếu tố có liên quan với nhau cùng làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền đạt thông tin để hỗ trợ việc ra quyết định, phân tích tình hình, lập kế hoạch, điều phối và kiểm soát các hoạt động trong một tổ chức, doanh nghiệp. Theo Luật Công nghệ thông tin thì “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”. Luật CNTT năm 2006 nhấn mạnh: "ƯDCNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”.
Dưới quan điểm của chuyên ngành Quản lý kinh tế, ƯDCNTT trong phòng, chống COVID-19 trên địa bàn cấp tỉnh sẽ được nghiên cứu dưới góc độ chính quyền cấp tỉnh quản lý các hoạt động sử dụng CNTT vào phòng, chống COVID-19 như thế nào, bao gồm các khâu hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các hoạt động ấy ra sao. Đặc điểm của ƯDCNTT trong quản lý nhà nước ở cấp tỉnh Thứ nhất, quản lý phức tạp, nhạy cảm, đòi hỏi phải có sự phối hợp cao. CNTT là công nghệ mũi nhọn, sử dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại, tiên tiến, 8 luôn có sự thay đổi. CNTT được phổ biến và ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh mọi đối tượng đều có thể tham gia vào các hoạt động của CNTT.
Điều đó, cho thấy tính phức tạp trong công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT. Đây không chỉ là quản lý ở một ngành, một lĩnh vực hay một phạm vi nào đó, mà phải bao quát tất cả. Quản lý trong điều kiện phát triển, thay đổi liên tục cả về nội dung, hình thức. Quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT không đơn thuần chỉ là vấn đề quản lý kỹ thuật, mà phải quản lý cả về thông tin, dữ liệu, việc xây dựng, cung cấp, truyền tải, khai thác thông tin, dữ liệu.
Tính nhạy cảm đối với thông tin ngày nay đã và đang được đặt ra cho công tác quản lý nhà nước nhiều nhiệm vụ khó khăn, phức tạp cần phải giải quyết, đặc biệt là thông tin liên quan đến các vấn đề về chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế. Tính phức tạp và nhạy cảm trong công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cấp, các ngành để CNTT thực sự phát huy vai trò trong phát triển KT-XH. Đó là sự phối hợp trong công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, quy định về quản lý CNTT. Thứ hai, quản lý nhà nước về CNTT không giới hạn về không gian và thời gian.
Cuộc cách mạng CNTT đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu và biến đổi hàng ngày. Ở bất cứ nơi đâu, quốc gia nào trên thế giới, CNTT cũng đã được đưa vào khai thác sử dụng. Thông qua CNTT, các ứng dụng của CNTT chúng ta có thể nắm bắt kịp thời, nhanh nhất những diễn biến về chính trị, tình hình KT-XH của toàn thế giới. Bên cạnh những ưu điểm đó, CNTT cũng đặt ra những thách thức trong quản lý không bị giới hạn về không gian và thời gian đó là đảm bảo an toàn, an ninh thông tin, đảm bảo kịp thời, nhanh nhất thông tin phục vụ cho nhiệm vụ chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ quản lý về CNTT phải có trình độ. CNTT là công nghệ có nhiều tầng lớp, là lĩnh vực phát triển và đào thải nhanh, được phổ biến 9 và ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống KT-XH, điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải có trình độ. Trước hết, người cán bộ quản lý phải là người am hiểu về công nghệ và các xu hướng phát triển của nó để tham mưu cho cơ quan, cấp có thẩm quyền đưa ra các chính sách, quy định trong hoạt động phát triển và ƯDCNTT. Đồng thời, phải là người có tư duy tổng hợp tốt để giải quyết tính phổ biến của CNTT.
Thứ tư, quản lý nhà nước về CNTT đòi hỏi phải có tính cập nhật. Với đặc điểm phát triển và đào thải nhanh của CNTT, quản lý không bị giới hạn về không gian và thời gian, quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT đòi hỏi phải có tính cập nhật. Đó là, nắm bắt kịp thời tình hình và xu hướng phát triển của CNTT, cập nhật, truyền tải kịp thời thông tin phục vụ phát triển KT-XH. Thực tiễn ngày nay, tính cập nhật trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT đang được phát huy tác dụng.
Thông qua CNTT, mọi hoạt động của đời sống xã hội được phản ánh kịp thời tới người dân. Đặc biệt là thông tin về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp, thông tin về chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước trong phát triển KT-XH. Vai trò của ƯDCNTT trong quản lý nhà nước ở cấp tỉnh 1. Vai trò của ƯDCNTT và chính quyền cấp tỉnh trong quản lý ƯDCNTT trong bối cảnh hiện nay CNTT có vai trò đặc biệt quan trọng, nó vừa là công cụ cần thiết, phục vụ hiệu quả các qui trình quản lý trong nhà nước.
Hiện nay, ƯDCNTT được xem là giải pháp đắc lực nhất hỗ trợ đổi mới quản lý nhà nước ở các cấp, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng trong quản lý nhà nước. ƯDCNTT trong quản lý nhà nước đóng một vai trò quan trọng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Bối cảnh quốc tế và trong nước đặt ra sự cần thiết tất yếu của sự thay đổi này. Một mặt, dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là ƯDCNTT, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hoá, công nghệ năng lượng v.
nền kinh tế thế giới đang biến đổi rất 10 sâu sắc, mạnh mẽ về cơ cấu, về chức năng và phương thức hoạt động. Đây là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại: nền kinh tế thế giới đang chuyển từ kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế thông tin - kinh tế tri thức, nền văn minh loài người đang chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ. Việt Nam và mỗi địa phương trong nước, đang chủ động và tích cực hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, tất yếu cần đẩy mạnh ƯDCNTT, chủ động xây dựng nền kinh tế tri thức để có thể hội nhập được thuận lợi. Mặt khác, phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đến năm 2025 nước ta về cơ bản sẽ trở thành nước công nghiệp, Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đến năm 2020 nước ta về cơ bản sẽ trở thành nước công nghiệp, đồng thời cũng xác định là chúng ta sẽ phải “tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, hiện đại về khoa học và công nghệ, đặc biệt là tin học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu công nghệ hiện đại và tri thức mới, từng bước phát triển kinh tế tri thức”, Theo Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật tổ chức chính quyền địa phương, “Chính phủ thực hiện phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương theo quy định tại các luật, các nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội”; “phân cấp cho chính quyền địa phương quyết định hoặc thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước.