CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý sử dụng đất lâm nghiệp 1. Các khái niệm chung 1. Khái niệm về lâm nghiệp Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất độc lập của nền kinh tế quốc dân có chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản và phát huy các chức năng phòng hộ văn hóa, xã hội,.
Khái niệm về đất lâm nghiệp Theo Điều 1 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, đất lâm nghiệp bao gồm: đất có rừng và đất không có rừng được quy hoạch để gây trồng rừng: Đất có rừng trong đó có rừng tự nhiên và rừng trồng. Đất không có rừng hay là đất trống, đồi núi trọc được quy hoạch sử dụng cho mục tiêu phát triển lâm nghiệp. Cụ thể, đất lâm nghiệp là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng bằng hình thức tự nhiên là chính), đất để trồng rừng mới (đất đã giao, cho thuê để trồng rừng và đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng). Để có cơ sở quản lý sử dụng đất lâm nghiệp, việc phân loại đất lâm nghiệp rất quan trọng.
Dựa theo mục đích sử dụng, đất lâm nghiệp được chia thành đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Rừng sản xuất: được xác định chủ yếu để xây dựng, phát triển rừng cho mục đích sản xuất, kinh doanh lâm sản (trong đó đặc biệt là gỗ và các lâm sản rừng) và kết hợp phòng hộ môi trường, cân bằng sinh thái. Rừng phòng hộ: xác định với mục đích chủ yếu để xây dựng và phát triển rừng cho mục đích bảo vệ và điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai (chống gió bão,cản sóng bảo vệ đê ngăn nước mặn vùng ven biển…) 5 điều hòa khí hậu, bảo đảm cân bằng sinh thái và an ninh môi trường. Rừng đặc dụng: nhằm mục đích bảo tồn thiên nhiên, hệ sinh thái, nguồn gen thực vật và động vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi, du lịch.
Còn theo Luật đất đai năm 1993 và Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001 thì đất lâm nghiệp được định nghĩa như sau: Đất lâm nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp gồm đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên, nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp [15]. Theo cách phân loại đất đai của Luật đất đai 2003 thì đất lâm nghiệp được hiểu là một bộ phận của đất nông nghiệp bao gồm diện tích đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp bao gồm đất có rừng tự nhiên, đất rừng trồng, đất sử dụng vào mục đích lâm nghiệp (trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ, nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về đất lâm nghiệp) [16]. Khái niệm về quản lý sử dụng đất lâm nghiệp Quản lý sử dụng đất lâm nghiệp là tổng thể các hoạt động, biện pháp có tính pháp lý, kinh tế, tổ chức, kỹ thuật của các cơ quan nhà nước, người sử dụng đất nhằm sử dụng hợp lý và hiệu quả tài nguyên đất một cách bền vững. Vai trò của ngành lâm nghiệp và công tác quản lý sử dụng đất lâm nghiệp 1.
Vai trò của ngành lâm nghiệp Lâm nghiệp là ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Tận dụng những gì thiên nhiên ban tặng, ngành lâm nghiệp đã đóng góp nâng cao GDP, tăng tốc độ phát triển kinh tế, cải thiện đời sống xã hội, bảo vệ môi trường cảnh quan… Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt. Nói đến lâm nghiệp trước hết phải nói đến vai trò của rừng trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội. Trong luật Bảo vệ và phát triển rừng có ghi "Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, 6 có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân với sự sống còn của dân tộc.
Rừng vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị bảo vệ môi trường, rừng là hợp phần quan trọng nhất cấu thành nên sinh quyển. Về mặt kinh tế, rừng cung cấp gỗ xây dựng, củi đun nấu, là nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp hóa học, cung cấp dược liệu, thịt thú rừng. Rừng còn có giá trị bảo vệ môi trường như: chống sói mòn đất, điều hòa nước mặt nước ngầm, điều hòa khí hậu, tạo môi trường sinh thái an toàn cho các loài động thực vật, chắn gió, làm sạch không khí. Rừng được xem như những nhà máy lọc bụi khổng lồ, trung bình 1 ha rừng thông/năm có khả năng hút 36.4 tấn bụi từ không khí, rừng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc cân bằng hàm lượng oxy và cacbonic trong khí quyển.
Vai trò quản lý sử dụng đất lâm nghiệp Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư, KTXH, mục tiêu phát triển, phương hướng, nhiệm vụ của từng vùng, từng địa phương mà quản lý đất lâm nghiệp có các vai trò sau: Đảm bảo sử dụng hợp lý, hiệu quả đất lâm nghiệp trên cơ sở xác định loại đất, hạng đất, công tác chọn giống, gieo trồng, chăm sóc, bảo vệ…, tránh tình trạng sử dụng lãng phí, chuyển đổi mục đích sử dụng một cách tùy tiện, hạn chế, ngăn chặn hiện tượng lấn chiếm, tranh chấp, hủy hoại đất ảnh hưởng đến môi trường, cân bằng sinh thái, kìm hãm sản xuất, ảnh hưởng đến phát triển KTXH. Bảo vệ đất, cải tạo đất, bảo vệ môi trường trong quá trình sử dụng: hướng đến phát triển bền vững tài nguyên đất, bên cạnh những lợi ích trước mắt thì phải đảm bảo tính lâu dài, không ảnh hưởng trong tương lai. Giúp người sử dụng hiểu được quyền và nghĩa vụ của họ trên phạm vi đất đai mà họ được giao, yên tâm đầu tư, khai thác trên phần đất của mình. Vì vậy sẽ đảm bảo, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng, góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Đặc điểm quản lý sử dụng đất lâm nghiệp Quản lý sử dụng đất lâm nghiệp luôn gắn với tính đặc biệt của sản xuất lâm nghiệp được thể hiện qua các khía cạnh: Đối tượng sản xuất lâm nghiệp là đất rừng với hệ thực vật cây rừng có chu kỳ sinh trưởng và phát triển rất dài, có thể tới hàng chục có thể hàng trăm năm và sở hữu đất đai là của chung. Địa bàn sản xuất rộng lớn, phức tạp, đi lại khó khăn, do đó việc quản lý tài nguyên cũng như áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn trở ngại. Sản xuất lâm nghiệp không những có ý nghĩa mang lại lợi ích kinh tế, mà nó còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái. Do đó, quản lý sử dụng đất đai nói chung và quản lý sử dụng đất lâm nghiệp nói riêng mang tính dài hạn.
Nhằm đáp ứng nhu cầu đất đai để phát triển lâu dài KTXH, cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến dựa trên cơ sở dự báo xu thế biến động dài hạn của các yếu tố KTXH quan trọng như sự thay đổi về nhân khẩu, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiến bộ khoa học công nghệ và kỹ thuật, nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế, các loại cây trồng lâu năm. Từ đó xác định sử dụng trung hạn hay dài hạn về sử dụng đất đai để đề ra các phương hướng chính sách và biện pháp có tính chiến lược và phù hợp từng loại đất tạo căn cứ khoa học cho việc quản lý sử dụng đất hàng năm. Việc quản lý sử dụng đất đai là để phục vụ cho nhu cầu của con người, phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất và quyền lợi của toàn xã hội, góp phần tích cực vào sự thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn nhằm sử dụng và bảo vệ đất, nâng cao hiệu quả sản xuất cho xã hội.Trong nền kinh tế thị trường, quản lý sử dụng đất góp phần thúc đẩy và giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích KTXH và các môi trường nảy sinh trong quá trình sử dụng đất đai. 8 Với sự tác động của nhiều yếu tố khó có thể dự đoán trước được theo nhiều phương diện khác nhau, quản lý sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng, thống kê chính xác số diện tích đất để quy hoạch sử dụng ở trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển KTXH trong một thời kỳ nhất định.
Với trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi các dự kiến ban đầu của quy hoạch sử dụng đất đai không còn phù hợp nữa, do vậy việc chỉnh sửa bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là việc làm hết sức cần thiết. Điều này thể hiện tính khả biến của quản lý sử dụng đất đai. Nội dung quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn cấp huyện Nội dung quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn cấp huyện bao gồm những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước (QLNN) về đất lâm nghiệp trên địa bàn cấp huyện. Trong phạm vi đề tài, tác giả sẽ lựa chọn một số nội dung chính liên quan đến quản lý sử dụng đất lâm nghiệp.
Chủ thể quản lý Với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước thực hiện quyền đối với đất đai thông qua hệ thống các cơ quan QLNN về đất đai từ trung ương đến địa phương với mục đích thực hiện sự thống nhất QLNN về đất đai, nhằm đảm bảo đất đai được sử dụng theo đúng pháp luật và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, khai thác và sử dụng đất ổn định, lâu dài và đạt hiệu quả cao. Trong đó bao gồm cả những nội dung liên quan đến quản lý sử dụng đất lâm nghiệp.