Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHTM 1. Các khái niệm liên quan 1. Tín dụng Tín dụng xuất hiện từ khi xã hội có phân công lao động, sản xuất và trao đổi hàng hoá. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì sự hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của các doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại ở cả ba khâu: dự trữ - sản xuất - lưu thông.
Do đó, thường xảy ra hiện tượng thừa vốn và thiếu vốn ở các doanh nghiệp. Tín dụng ngân hàng góp phần điều tiết các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế không bị gián đoạn, sử dụng hợp lý hơn trong nền kinh tế. Lý luận và thực tiễn cho thấy, tín dụng là hoạt động chủ yếu tại NHTM. Có nhiều khái niệm về tín dụng như : Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền cam kết hoàn trả theo điều kiện đã thoả thuận (Lê Văn Tú, 2005).
Tín dụng là quan hệ vay mượn dưới dạng tiền tệ, có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định (Nguyễn Đức Tú, 2011). Tín dụng là một giao dịch về tài sản, (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các tổ chức tín dụng khác) trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán (Huỳnh Kim Trí, 2012). Như vậy, tín dụng chính là việc chuyển giao quyền sử dụng chứ không thay đổi quyền sở hữu, việc chuyển giao này có thời hạn nhất định và có tính hoàn trả cả gốc và lãi. Phần lãi chính là một phần thu nhập của người sở hữu vốn tín dụng.
Như vậy, bản chất của tín dụng ngân hàng đó là việc cấp một khoản tiền cho khách hàng sử dụng và có nguyên tắc hoàn trả (Nguyễn Văn Tiến, 2009). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Đặc điểm của tín dụng Phân phối của tín dụng mang tính hoàn trả; Hoạt động của tín dụng có sự vận động đặc biệt của giá cả. Vai trò của tín dụng Tín dụng là công cụ thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng và góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế; Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn; Tín dụng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội; Tín dụng góp phần thực hiện chính sách xã hội. Khái niệm về rủi ro tín dụng Ngân hàng với chức năng trung gian tài chính giữa người cho vay và người đi vay, là kênh dẫn vốn quan trọng nhất trong nền kinh tế.
Hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường rất nhạy cảm, có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan như kinh tế, chính trị, xã hội.Hơn nữa, ngân hàng không chỉ hoạt động trong lĩnh vực huy động vốn mà còn rất nhiều lĩnh vực khác như thanh toán, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán, phát hành thẻ.Do đó, hoạt động của các ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Rủi ro chung đối với một ngân hàng có nghĩa là mức độ không chắc chắn liên quan đến những sự kiện, những tình huống gây nên tổn thất kinh tế, làm chi phí tăng lên, thu nhập và lợi nhuận ngân hàng giảm đi so với dự kiến ban đầu. Rủi ro có thể được đo lường cho các sản phẩm, dịch vụ khác nhau của ngân hàng. Thông thường mức lợi nhuận ngân hàng càng cao thì xác xuất xảy ra rủi ro cũng càng cao (Nguyễn Đức Tú, 2011).
Các ngân hàng được coi là kinh doanh thành công khi mức độ rủi ro của họ được giữ ở mức hợp lý, được kiểm soát trong phạm vi và năng lực hoạt động tài chính của ngân hàng. Do đặc thù kinh doanh nên hoạt động của ngân hàng phải đối mặt với các loại rủi ro như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro hoạt động ngoại bảng, rủi ro công nghệ và những rủi ro khác. Trong tất cả các rủi ro kể trên thỉ rủi ro trong hoạt động tín dụng là loại rủi ro lớn nhất, phức tạp nhất và là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng thương mại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Rủi ro tín dụng ngân hàng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện được các nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng. Đây là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả nặng nề nhất cho ngân hàng.
Hoạt động cho vay là hoạt động lớn nhất và chủ yếu của ngân hàng thương mại. Thông thường các nghiệp vụ này mang lại 2/3 thu nhập cho ngân hàng, còn ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay thu nhập từ hoạt động tín dụng mang lại thường chiếm 90% tổng thu nhập của mỗi ngân hàng. Nhưng trong lĩnh vực này cũng chứa nhiều rủi ro bởi các khoản tiền vay bao giờ cũng có xác xuất vỡ nợ cao hơn với những tài sản có khác. Rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào.
Rủi ro tín dụng nếu không được phát hiện và sử lý kịp thời sẽ làm nảy sinh các rủi ro khác (Nguyễn Đức Tú, 2011). Tại Việt nam, rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng, theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích , phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài của Thống đốc NHNN, “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. (Ngân hàng Nhà nước, 2013) Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu trung lại chúng ta có thể rút ra các nội dụng cơ bản của rủi ro tín dụng như sau: Xét trên khía cạnh nhất định, rủi ro tín dụng có thể được xem xét là: Là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng có thể không trả một phần hoặc hoàn toàn không trả được nợ hoặc chậm trả nợ. Là sự tổn thất hoặc giảm sút chất lượng hoạt động của khách hàng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.
Cũng có thể rủi ro tín dụng xảy ra khi xuất hiện các biến cố bất thường khiến khách hàng không thực hiện được các cam kết với ngân hàng. Như vậy, cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, là khả năng, do đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ rất cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng, ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản lý rủi ro tín dụng được chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo chống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra.
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng, việc phân loại rủi ro tín dụng tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu và phân tích. Đối với hệ thống NHTM thì việc phân loại rủi ro tín dụng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập chính sách, qui trình, thủ tục và cả mô hình tổ chức quản lý và điều hành nhằm bảo đảm nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro và phân biệt trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, giữa các khâu trong toàn bộ quá trình tác nghiệp thẩm định, cấp tín dụng giám sát thu hồi nợ và xử lý khoản nợ nếu nó có dấu hiệu không bình thường. Thực tế cho thấy sự phân chia trách nhiệm càng rõ ràng, càng cụ thể, sẽ giúp cho quá trình quản lý rủi ro tín dụng có hiệu quả (Nguyễn Đức Tú, 2011). - Theo đối tượng sử dụng vốn vay: + Rủi ro khách hàng cá thể: Thông thường số lượng khách hàng sẽ rất nhiều, tuy nhiên mức độ rủi ro của từng khoản vay đơn lẻ sẽ thấp, mức độ ảnh hưởng của việc mất khả năng thanh toán của từng khoản vay là nhỏ; loại hình giao dịch, cơ cấu giao dịch dễ quản lý.
+ Rủi ro khách hàng công ty, tổ chức kinh tế: Tùy theo qui mô của công ty, tổ chức kinh tế là lớn hay nhỏ thì mức độ ảnh hưởng của rủi ro các khoản vay vào đối tượng này sẽ được đánh giá ở mức vừa hay lớn, tác động của nó đến khả năng thanh toán khoản nợ là vừa hay cao. + Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý: Những Ngân hàng hoạt động phạm vi toàn cầu có sự phân chia theo lãnh thổ quốc gia, nếu trong phạm vi một quốc gia phân chia RRTD tập trung theo khu vực địa lý, ví dụ như mức độ rủi ro khu vực Miền Bắc, Miền Trung, Miền Nam (Nguyễn Đức Tú, 2011). - Theo phạm vi ảnh hưởng: + Rủi ro giao dịch đơn lẻ: Được hiểu là rủi ro gắn với một giao dịch đơn lẻ nào đó, cụ thể như rủi ro của một khoản vay đối với một khách hàng. Loại rủi ro LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 này gắn liền và xuất phát chủ yếu do đặc điểm cá biệt của khoản vay hoặc khách hàng vay vốn.
+ Rủi ro hệ thống: Được hiểu là rủi ro tín dụng gắn liền với nhóm khách hàng, một ngành hàng, thậm chí với cả một nền kinh tế. Rủi ro hệ thống mang tính chất vĩ mô và liên quan nhiều đến việc quản lý danh mục cho vay (Nguyễn Văn Tiến, 2010).