Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay Khách hàng Doanh nghiệp của N gân hàng Thương mại. Chương 2: Thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay Khách hàng Doanh nghiệp tại N gân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt N am - Chi nhánh Huế. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay Khách hàng Doanh nghiệp tại N gân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt N am - Chi nhánh Huế. Phần III: Kết luận và kiến nghị 4 PHẦ II: ỘI DU G GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VỀ RỦI RO TÍ DỤ G VÀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍ DỤ G TRO G CHO VAY KHÁCH HÀ G DOA H GHIỆP CỦA GÂ HÀ G THƯƠ G MẠI.
Tổng quan về rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 1. Hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Theo luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 29/06/2010: “N gân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. [1] “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.[1] Theo thông tư số 18/VBHN -N HN N ngày 12/07/2023: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. [2] Cho vay là hoạt động truyền thống của ngân hàng, phát triển đa dạng và hoàn thiện với nhiều loại hình khác nhau từ cho vay ngắn hạn đến cho vay trung dài hạn, mức lãi suất vay dài hạn sẽ cao hơn lãi suất vay ngắn hạn vì thời gian vay càng dài thì rủi ro càng lớn.
Tùy thuộc vào hoạt động kinh doanh của các DN , các N HTM sẽ cho KHDN vay tiền theo nhiều phương thức khác nhau để mang về lợi nhuận tối đa cho ngân hàng. Vai trò của cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Cho vay KHDN là hình thức cung cấp tín dụng của ngân hàng cho các khách hàng là doanh nghiệp. Cho vay doanh nghiệp là một bộ phận trong tín dụng ngân hàng và có vai trò quan trọng đối với tín dụng ngân hàng, cũng như kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại. 5 Cho vay KHDN giúp mang lại thu nhập cho ngân hàng thông qua lãi suất cho vay.
N goài ra, ngân hàng còn có thể phát triển các hoạt động khác của mình, mở rộng thị phần hoạt động, được nhiều khách hàng biết đến. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, góp phần thúc đNy quá trình tái sản xuất. N hờ có hoạt động cho vay KHDN của ngân hàng mà khách có được khoản vốn vay kịp thời để đáp ứng các nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh…nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Cho vay doanh nghiệp của ngân hàng là nguồn huy động vốn nhanh chóng, tiện ích cho các doanh nghiệp.
Cho vay KHDN còn góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước. N gân hàng hoạt động tốt hơn, người dân có vốn để đầu tư, SXKD tạo công ăn việc làm ổn định đời sống…Điều đó góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, giúp phân bổ vốn từ nguồn có vốn sang người cần vốn. N goài ra, tín dụng doanh nghiệp luôn đi đôi với yếu tố lãi suất, yếu tố này tham gia vào việc góp phần ổn định giá trị đồng tiền và lưu thông tiền tệ. Phân loại cho vay khách hàng doanh nghiệp của &HTM Căn cứ vào thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn: Là những khoản vay có thời hạn vay tối đa 1 năm, đáp ứng nhanh chóng, kịp thời các nhu cầu vay vốn lưu động trên cơ sở thấu hiểu dòng tiền và kế hoạch SXKD của khách hàng đó.
- Cho vay trung hạn: Là những khoản vay có thời hạn trên 1 năm và tối đa 5 năm. Vay trung hạn sẽ giúp giải quyết được nhu cầu vốn kinh doanh, tiêu dùng của khách hàng và giảm bớt áp lực tài chính vì họ sẽ được linh động thanh toán trong thời gian dài hơn. - Cho vay dài hạn: Là những khoản vay có thời hạn vay trên 5 năm, những khoản vay tín dụng dài hạn nhằm mục đích hỗ trợ khách hàng những khoản lớn như vay mua bất động sản, vay huy động vốn kinh doanh sản xuất,… Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay - Cho vay không bảo đảm: Là khoản vay được cấp dựa trên uy tín của khách hàng, hoàn toàn không được bảo đảm bằng TSCĐ nào. Thủ tục giải ngân nhanh chóng, tuy nhiên mức vay bị giới hạn trong phạm vi cụ thể.
6 - Cho vay có bảo đảm: Là tài sản mang đi thế chấp phải đảm bảo cho khoản vay theo một tỷ lệ nhất định và thuộc sở hữu của chính khách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Căn cứ vào phương thức cho vay - Cho vay từng lần: Là hình thức cấp tín dụng phổ biến của N HTM mà theo đó, người vay phải làm nhiều bộ hồ sơ vay cho từng lần vay với số vốn đã được xác định. Phương thức này phù hợp đối với những khách hàng có nhu cầu vay ngắn và trung hạn. - Cho vay theo hạn mức: Là hình thức cấp tín dụng tiên tiến của N HTM mà theo đó, người vay chỉ việc làm bộ hồ sơ trong một lần để vay trong nhiều khoản với hạn một mức nhất định.
Khách hàng chỉ cần cung cấp phương án sử dụng tiền vay và các hóa đơn chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn đề nghị ngân hàng giải ngân. Phương thức cho vay này nhằm đáp ứng vốn lưu động trong quá trình kinh doanh của khách hàng và phù hợp với khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên, mức độ luân chuyển vốn nhanh. Căn cứ vào phương pháp hoàn trả - Cho vay có thời hạn: Là cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng như cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ (cho vay phi trả góp), cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể (cho vay trả góp) hoặc cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà việc trả nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người vay hoặc cho vay theo kỹ thuật thấu chi. - Cho vay không có thời hạn cụ thể: Là cho vay mà giữa ngân hàng và khách hàng không có thỏa thuận cụ thể về thời hạn trả nợ, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng trả nợ bất cứ lúc nào hoặc khách hàng có thể trả nợ bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.
Rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Khái niệm về rủi ro tín dụng Theo quy định của thông tư 08/2017/TT- N HN N ngày 01/12/2017 của N gân hàng N hà nước Việt N am, “Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc 7 không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. [4] N hư vậy, RRTD trong cho vay KHDN là những tổn thất, mất mát về tài chính mà ngân hàng phải gánh chịu nếu KHDN không thực hiện được các nghĩa vụ theo hợp đồng vay, biểu hiện cụ thể là việc khách hàng không trả đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn. &guyên nhân rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại a. guyên nhân từ người vay - Rủi ro từ trình độ của KHD : N ăng lực quản lý điều hành còn yếu kém và hạn chế làm cho việc kinh doanh không đạt hiệu quả dẫn đến gây mất thanh khoản không trả được nợ cho ngân hàng.
Một số KHDN khi đầu tư vào SXKD chỉ tính đến lợi nhuận mà không tính đến những mối nguy hại có thể xảy ra, bất chấp với những cơ hội kinh doanh đầy mạo hiểm, gây ra những tổn thất lớn trong kinh doanh cho chính doanh nghiệp đó dẫn đến tổn thất vốn vay từ ngân hàng. - KHD cố tình chiếm dụng vốn từ ngân hàng: Để vay được vốn của ngân hàng, nhiều KHDN đã dựa trên kẽ hở của pháp lý tạo lập nhiều hồ sơ giả, hình thành các công ty ma tạo nên thông tin kế toán sai lệch dẫn đến vay vốn trái pháp luật làm ngân hàng đánh giá sai về tình hình tài chính của bên vay. Khi đó, ngân hàng sẽ cho vay vốn với số tiền vay, thời gian trả nợ không hợp lý gây rủi ro cho ngân hàng khá cao. N goài ra, cũng có trường hợp bên vay kinh doanh có lãi nhưng vẫn cố tình không thanh toán khoản nợ nhằm thực hiện những mục đích khác.
guyên nhân từ ngân hàng - ghiệp vụ của đội ngũ CBTD còn hạn chế: Đội ngũ CBTD còn non kém về trình độ nghiệp vụ, không có nhiều kinh nghiệm trong công tác chuyên môn, không đủ năng lực để đánh giá phương án SXKD của KHDN nên khi cho vay dễ dẫn đến tình trạng RRTD. Mặc khác, sự yếu kém của CBTD còn thể hiện ở sự đánh giá sai về khách hàng vay, xác định hạn mức vay, thời gian vay và lãi suất không phù hợp với khả năng tài chính của khách hàng gây nên thất thoát vốn vay của ngân hàng. 8 - Sự giám sát của các cấp quản lý trong ngân hàng thiếu nghiêm túc: Để giải ngân vốn vay thì cần phải có sự phê duyệt thông qua cấp quản lý. N gười quản lý có trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ, xác thực và tính hợp pháp của khoản vay, đánh giá quyết định của CBTD trong việc đề xuất cho vay đã thực sự chính xác chưa.
N ếu cấp quản lý bỏ quả việc kiểm tra này thì nguy cơ RRTD rất cao.